Từ Chiếu Lập học của hoàng đế Quang Trung nghĩ về nền giáo dục nước ta hôm nay

Từ Chiếu Lập học của hoàng đế Quang Trung nghĩ về nền giáo dục nước ta hôm nay
03:08 19 thg 2 2012Công khai3 Lượt xem 0

Hoàng Lại Giang

18-02-2012

Thời Quang Trung việc sử dụng nhân tài và đào tạo nhân tài gắn kết chặt chẽ

Trước khi ra Chiếu Lập học, Quang Trung ra Chiếu Cầu hiền. Nói cách khác, sử dụng nhân tài và đào tạo nhân tài thời đại Quang Trung gắn kết chặt chẽ theo quy luật nhân quả. Ở nước ta, từ Lý, Trần, Lê đến Nguyễn, ở những mức độ khác nhau đều có Chiếu Cầu hiền gắn liền với chính sách giáo dục.

Riêng thời đại Quang Trung, Chiếu Cầu hiền và Chiếu Lập học là rõ ràng, sáng sủa và rất khoa học. Trước tiên, trong Chiếu Cầu hiền ai cũng thấy tấm lòng chân thành của một nhà vua mong ước được sự cộng tác của người tài, của kẻ sĩ, để cùng với nhà vua xây dựng đất nước cường thịnh giữa thời loạn lạc, dân đang đói khổ, cùng cực … “ Trẫm đương để ý lắng nghe, sớm hôm mong mỏi. Thế mà những người tài cao, học rộng, chưa ai đến. Hay trẫm là người ít đức, không xứng phò tá chăng? Hay đương thời loạn lạc, họ chưa thể phục sự vương hầu chăng?

Đương khi trời còn thảo muội, là lúc quân tử thi thố kinh luân, nay buổi đầu đại định, mọi việc còn đương mới mẻ. Mối giềng triều đình còn nhiều thiếu sót, công việc biên ải chính lúc lo toan. Dân khổ chưa hồi sức, đức hóa chưa thấm nhuần. Trẫm chăm chắm run sợ, mỗi ngày muôn việc lo toan. Nghĩ rằng: sức một cây gỗ không chống nổi một tòa nhà to, mưu lược một kẻ sĩ không dựng được cuộc thái bình. Hỏi rằng trong nước, một ấp mươi nhà, hẳn có người trung tín, huống chi trong cõi đất rộng lớn đến thế này, há lại không có người xuất kiệt hơn đời để giúp rập chính sự buổi đầu cho trẫm ư?” (Tổng tập văn học Việt Nam -9A).

Một người tưởng võ biền như hoàng đế Quang Trung, học hành ít ỏi, nhưng lại là người có những quốc sách về giáo dục, về cách sử dụng nhân tài, thật đáng nể trọng, như một quân vương, không khác gì Cơ xương – thời cổ đại Trung Hoa – thật sự tôn trọng nhân tài: Thà để trẫm khổ đừng để nhân tài khổ. Trong nhận thức của Hoàng đế Quang Trung, khi nhân tài chưa quy tụ về một mối, còn hoài nghi về một triều đình mà không ít người đương thời gọi là thảo muội, chưa đủ chính danh, thì giáo dục có đặt ra cũng chỉ là trò vẽ vời cho rắn thêm chân mà thôi. Từ nhận thức ấy, vị hoàng đế vừa mới xung trận đánh tan 29 vạn quân xâm lược nhà Thanh trong thế chẻ tre, trở về, lại hạ mình cầu nhân tài và giao cho Nguyễn Thiếp, một người hôm qua còn chống mình, không chịu cộng tác với mình, trọng trách chọn nhân tài cho chính triều đình của mình, không một hoài nghi, không phân vân, do dự …

Sau khi ra Chiếu Cầu hiền, Quang Trung ban Chiếu lập nhà học, còn được gọi là Chiếu Lập học. Trong Chiếu Lập học, Quang Trung ghi rõ: “Trẫm khi mới bình định đã có nhã ý hậu đãi nhà nho, có lưu tâm quý mến kẻ sĩ, muốn được người thực học để dùng cho quốc gia…’’

Thời đại Quang Trung có những nét tương đồng với thời đại chúng ta đang sống hôm nay: Sau chiến tranh, bao nhiêu vấn nạn, và sau đó là nạn mua quan bán chức, nạn gian dối, gian dối ngay cả trong học hành và thi cử. Vì vậy, trong Chiếu Lập học, Quang Trung đòi hỏi sự thực học như một nguyên tắc quan trọng số một trong việc chọn nhân tài cho đất nước. Điều Quang Trung sợ nhất trong vương triều của mình là một đám quan lại bất tài vô học, thất đức, được che đậy bằng những tấm bằng giả, giọng điệu giả, bộ mặt giả … Dân gian gắn kết đồ giả là đồ đểu!

Việc đầu tiên trong Chiếu Lập học của hoàng đế Quang Trung là chọn thầy giỏi và có đạo đức. Đấy là hai tiêu chuẩn mang tính quyết định của bất kỳ một nền giáo dục nào. Dân gian có câu: Cha nào, con nấy, thầy nào, trò nấy. Trong lịch sử đã từng có những bậc thầy như Chu Văn An, Sư Vạn Hạnh, Võ Trường Toản… rèn đúc nên những học trò danh tiếng, có tâm và có tầm. Họ đều là những người tài cao, học rộng, và trên hết là nhân cách. Thầy giỏi ắt sẽ có trò giỏi. Thầy dốt ắt sẽ cho ra đời những kẻ vô học. Thầy có đạo đức, có nhân cách, sẽ đào tạo cho xã hội những người có đạo đức, có lòng vị tha, biết thương người và có lương tri, có lý tưởng sống đúng đắn… Lịch sử ghi nhận một triều đại hưng thịnh là một triều đại biết tôn trọng trí thứcc, oi giáo dục thực sự là việc Trồng người. Trồng người đòi hỏi một nền tảng xã hội biết coi trọng việc thực học, có nhiều chính sách, nhiều chủ trương, tạo thuận lợi cho mọi trí thức đủ điều kiện để nghiên cứu, tranh luận, nói thẳng, nói thật, không bắt tội một ai chỉ trích mình, phê phán mình (không bắt tội ai vu khoác – trong Chiếu cầu lời nói thẳng của Quang Trung).

Theo ngôn ngữ hiện đại như vậy thì hơn 200 năm trước, triều đại Quang Trung đã chấp nhận đa nguyên. Đúng hơn, nhà vua cần sự phản biện để điều tiết những mặt yếu trong triều đại mình, chẳng khác gì các nước phát triển hôm nay. Vì vậy, triều đại Quang Trung là một triều đại cấp tiến, coi trọng dân chủ, coi trọng quyền con người.

Việc thứ hai trong giáo dục là chọn trò giỏi, bây giờ ta gọi là tuyển sinh. Trong Chiếu Lập học Quang Trung chú trọng giáo dục từ cơ sở, từ làng để không bỏ sót người tài, và không chấp nhận học giả, bằng giả, thời ấy gọi là sính đồ ba quan (mua bằng). Với loại sính đồ này nhà vua cương quyết bắt về làm dân. “Hẹn năm nay, mở khoa thi hương, những tú tài thi hương đỗ hạng ưu được đưa lên trường Quốc học, đỗ hạng thứ thì đưa vào trường phủ học. Những hương cống đỗ ở triều cũ chưa làm chức nhiệm gì, nay tới chầu thì bổ các chức huấn đạo. Tri huyện, nho sinh và sính đồ cũ đợi kỳ thi vào thi lại, đỗ hạng ưu thì tuyển dụng, hạng kém thì bãi về trường xã học. Còn những sính đồ ba quan nhất thiết bắt về làm dân, cùng dân chịu sưu dịch… Vậy ban chiếu xuống cho dân các xã nên lập học xã, chọn nho sĩ trong xã có học thức, có đức hạnh, đặt làm thầy học giảng dạy cho học trò xã mình” (Chiếu Lập học – trong Tây Sơn tam kiệt –Trần phương Hồ).

Trong ba anh em nhà Tây Sơn, Nguyễn Huệ nổi lên như một thiên tài quân sự, bách chiến bách thắng. Đấy là điều hiển nhiên không cần bàn cãi. Nhưng lịch sử cũng có nhiều người nhận ra Nguyễn Huệ còn là một chính khách lớn của mọi thời đại, chính vì Ông biết mình là ai. Chính vì biết mình là ai nên Nguyễn Huệ thành tâm lắng nghe mọi ý kiến của tất cả mọi người, đặc biệt là trí thức, là sĩ phu không nệ từ đâu tới, cùng quan điểm hay khác quan điểm với mình. Điều quan trọng của một chính khách lớn như Nguyễn Huệ là bản lĩnh và nhạy bén, sắc sảo trong tiếp nhận và sàng lọc mọi lời khuyên cũng như lời nói thẳng (trung ngôn nghịch nhĩ), của các sĩ phu từ mọi miền, từ mọi thành phần trong mọi giai tầng đến với Ông. Về bản chất, hoàng đế Quang Trung là một Quân vương. Từ đấy hiền tài về với Nguyễn Huệ ngày một đông, giúp người anh hùng này xây dựng một vương quyền vững mạnh, không chút sợ hãi trước Thiên triều, thậm chí còn làm tờ biểu đòi Thiên triều trả lại cho ta 6 châu, 3 động mà họ đã chiếm trước đó.

Dám làm bạn với kẻ sĩ, dám nhờ kẻ sĩ làm quân sư mà hoàng đế Quang Trung hiểu được mối quan hệ nhân quả giữa việc sử dụng nhân tài với đào tạo nhân tài, giữa giáo dục với sự thành tâm chiêu hiền đãi sĩ. Đấy là hai yếu tố quyết định tính hiệu quả nền giáo dục của một đất nước. Thiếu một trong hai yếu tố ấy, nhân tài sẽ không bao giờ xuất hiện, nếu không nói là nền giáo dục ấy sẽ cho ra đời những thai non hay quái thai. Các nước châu Âu, đặc biệt là giáo dục Hiệp chúng quốc Hoa Kỳ, từ lâu họ đã nhận thức sâu sắc mối quan hệ tương hỗ này. Giáo dục không bao giờ đào tạo ra nhân tài khi nhân tài bị phân biệt đối xử, bị đặt không đúng chỗ, thậm chí đặt nhầm chỗ, bị bạc đãi, bị quy chụp như những tội đồ!

Hoàng đế Quang Trung khẳng định tầm quan trọng chiến lược của việc đào tạo nhân tài: “Dựng nước lấy dạy học làm đầu, muốn thịnh trị lấy nhân tài làm gốc…”

Trước khi ra Chiếu Lập học, Quang Trung lập Viện Sùng chính và giao cho La Sơn phu tử làm viện trưởng. Theo ngôn ngữ hiện đại thì Sùng chính thư viện là viện nghiên cứu chiến lược về giáo dục. Nghe La Sơn phu tử, Quang Trung chấp nhận giáo dục theo đường lối học gắn với hành của Chu tử chứ không học theo kiểu nhồi nhét, học vẹt, nhằm thuộc lòng những bài học Thánh hiền. “Nhất định phải theo phép học Chu tử, khiến cho nhân tài có thể thành tựu, phong tục trở lại tốt đẹp“.

“Từ rày, phàm trong các viên tư nghiệp, đốc học, mỗi năm nếu có ai học hay hạnh tốt, thì sẽ kê quê quán, tên họ, đạt đến thư viện, giao cho ông (tức La Sơn phu tử) khảo xét đức nghiệp và hạnh nghệ, tâu lên Triều để chọn mà dùng.

Ông nên giảng rõ đạo học, rèn đức nhân tâm, để cho xứng với ý trẫm khen chuộng kẻ tuổi cao đức lớn …Quang Trung nghe lời cụ, muốn sĩ phu học nghĩa lý, chứ không học từ chương… Trước học tiểu học để bồi lấy gốc. Tuần tự tiến lên, rồi đến tứ thư, ngũ kinh… Học cho rộng rồi mới ước lược cho gọn, theo điều học biết mà làm. Họa may nhân tài mới có thể thành tựu…” (La Sơn phu tử -Hoàng Xuân Hãn).

La Sơn phu tử cũng khuyên Quang Trung: “Giáo dục là cái gốc để đào tạo người tài. Nhưng những bậc kỳ tài, kỳ ngộ đâu phải hết thảy đều do khoa cử mà ra. Đời nếu có tài Bệ hạ nên dùng lễ mà mời ra như vua Thang mời Y Doãn ở đất Sằn, vua Văn Vương thăm Lã thượng sông Vị…” (Hoàng Lê nhất thống chí t2 tr19).

Lần đầu tiên trong lịch sử, chính phủ Hồ Chí Minh sau cách mạng tháng Tám 1945, đã xóa nạn mù chữ cho toàn dân trong vòng ba tháng! Một công việc phi thường chưa hề có tiền lệ trong bất kỳ một dân tộc nào để tiến tới khai dân trí như ước nguyện của cụ Phan Châu Trinh. Đấy là một bước đi táo bạo. Tiếp theo là phổ cập giáo dục cấp một…

Rất tiếc, chiến tranh đã đến, không kịp cho giáo dục Việt Nam tiếp tục trong cái dòng phát triển đúng đắn của nó: phổ cập giáo dục, nhằm chọn lựa nhân tài cho giáo dục đỉnh cao. So với nhiều nước có nền giáo dục phát triển, rõ ràng giáo dục của chúng ta còn quá nhiều bất cập! Đáng lẽ tìm mọi cách khắc phục những bất cập, học tập những tinh hoa của nền giáo dục truyền thống của tiền nhân và những mặt tích cực của giáo dục phương Tây thì chúng ta lại quy tội cho thực dân và phong kiến để nêu khẩu hiệu: bài phong đả thực, đập phá hết để xây nền giáo dục cách mạng vô sản: Đào tạo công nông cho nhà nước vô sản của giai cấp công nông! Bắt đầu từ đấy, tính giai cấp đã áp đặt vào giáo dục, đẩy giáo dục vào con đường phản giáo dục! Mặc dù Nguyễn Tất Thành không hề xuất thân từ nông dân, càng không phải là công nhân. Ông là con trai cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, một quan lại triều Nguyễn. Đấy là câu hỏi mà người đương thời đặt ra là, vì sao một vị con quan lại triều Nguyễn lại chọn Quốc tế III?

Sai lầm của giáo dục VN bắt nguồn từ thể chế chính trị

Suy cho cùng thì sai lầm của giáo dục Việt Nam thời cách mạng bắt nguồn từ ý thức hệ, từ thể chế chính trị. Nhiều ý kiến đầy tâm huyết của các nhà giáo dục, các vị GS tên tuổi trong nước cũng như ngoài nước trên các diễn đàn của hội thảo về giáo dục Việt Nam không ít, sự nhiệt tình và ưu ái của các cơ quan báo chí và các đài phát thanh và truyền hình với giáo dục nước nhà là vô cùng to lớn. Đòi hỏi giáo dục Việt Nam phải nhanh chóng thay đổi từ cách dạy, cách học, không được nhồi nhét, học chay, học vẹt, tránh chạy theo thành tích.

Có những GS vì quá bức xúc với nền giáo dục lạc hậu của Việt Nam như GS Hoàng Tụy đã phải gào lên: “Dứt khoát từ bỏ đào tạo những mẫu người chỉ biết ngoan ngoãn chấp hành, quen được dẫn dắt, bao cấp cả về tư duy và hành động hơn là biết suy nghĩ độc lập và tự chịu trách nhiệm…Giáo dục không thể đổi mới vụn vặt. Giáo dục sa sút không phải vì thiếu tiền, mà vì quản lý kém . Chương trình quá tải không chữa nổi. Sách giáo khoa sai đến không đính chính xuể . Sự sa sút của giáo dục có nguyên nhân khách quan: Do đất nước nghèo, đầu tư không đủ, do trình độ non yếu của thầy, cô giáo, do ý thức người dân lạc hậu, do phụ huynh cũng là đồng tác giả của nhiều sai lầm yếu kém của giáo dục… Song muốn lay chuyển tình hình phải thừa nhận nguyên nhân chủ yếu, nguyên nhân của mọi nguyên nhân, đó là lãnh đạo quản lý bất cập, bất cập cả tâm lẫn tầm và từ trên xuống dưới…” Nhưng có ai nghe theo ông, và nếu có nghe thì cũng không dễ thực thi điều ông tâm huyết bởi cái mà giáo dục cần sửa chữa nằm ở chỗ khác…

GS Phan Đình Diệu trả lời phỏng vấn nhà báo Na-uy, đoạn về giáo dục, ông nói: “Trái ngược với nền giáo dục thời Pháp, chế độ xã hội chủ nghĩa đào tạo ra những chuyên viên hơn là những trí thức”. Và những chuyên viên này thuộc loại người không có cái đầu vì mọi thứ đều do “đảng nghĩ”.

Cố GS Bùi Trọng Liễu có cái nhìn thực tế hơn về giáo dục nước nhà: “…Khi nghiên cứu đã bị trót tách ra khỏi việc giảng dạy đại học rồi, thì hàn gắn lại không phải dễ. Khi những khuyết tật trong giáo dục, đào tạo, như việc chiếu cố trong tuyển sinh thi cử, chọn nghiên cứu sinh… dù là vì thành phần lý lịch, đã xâm phạm vào việc học, thì chúng cũng dễ biến thể đi và chúng cũng biết thích nghi trong một khung cảnh mới. Vì thế mà việc chấn hưng giáo dục ngày nay mới khó khăn như vậy”.

Còn đây là cái nhìn thẳng thắn của GS Phạm Xuân Yêm – Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp: “Môi trường xã hội Việt Nam đang bị méo mó trong hầu hết mọi lĩnh vực: con người, nhận thức, đạo đức tôn chỉ giáo dục… tất cả đều méo mó quá độ… Việc quan trọng nhất là phải kéo thẳng những thứ đó lại, phải ngay thẳng lại, phải chăm sóc cho những thứ đó phát triển đúng cách. Mỗi quốc gia muốn canh tân, đều phải đi đúng quy luật…”

Giáo dục VN thời cách mạng là duy ý chí

Chúng ta đã làm trái quy luật, chúng ta đã bắt quy luật theo suy nghĩ giản đơn và chủ quan của chính chúng ta!

Riêng GS Hoàng Tụy, tôi thấy ông đúng là một nhà giáo dục tâm huyết nhất trong những GS tâm huyết với giáo dục Việt Nam. Nhưng tôi tâm đắc nhất lại là một đúc kết ngắn gọn và thực tế về giáo dục VN của ông: “Giáo dục Việt Nam lạc hướng chứ không phải lạc hậu”. Đúng là lạc hậu thì còn cách này cách khác vực dậy được, nhưng lạc hướng thì càng đi càng xa cái đích mà giáo dục cần đến. Vì lạc hướng cho nên giáo dục Việt Nam càng cải cách càng rơi vào khủng hoảng, càng bế tắt. Bệnh thành tích vẫn không giảm, nạn học giả bằng giả, học giả bằng thật ngày càng là một vấn nạn! Những nhà lãnh đạo đất nước hết thế hệ này qua thế hệ khác từ những Sinh đồ ba quan như vậy thay nhau nắm chính quyền, thì họ sẽ đưa đất nước đi về đâu giữa thời hội nhập này?

Tôi có cảm giác, hình như nhiều người vẫn còn né tránh những vấn đề gọi là tế nhị, nhưng đấy mới thực sự là vấn đề thuộc bản chất mà tự giáo dục Việt Nam không thể đơn độc sửa chữa được. Muốn giáo dục Việt Nam phát triển lành mạnh, đúng quy luật như nhiều nước phát triển, không thể né tránh lỗi hệ thống – cụm từ của nguyên UVBCT chủ tịch quốc hội Nguyễn Văn An – trong thể chế chính trị Việt Nam hôm nay. Ở những năm 60, 70, 80, 90, của thế kỷ 20 thì đây đúng là vấn đề đáng sợ! Bởi miền Bắc là thiên đường của các con tôi (Tố Hữu). Nếu ai hé môi chắc chắn không vào trại giam bóc lịch thì cũng không dễ sống chung giữa cộng đồng. Nhưng sau khi chủ nghĩa xã hội sụp đổ theo hệ thống domino trên toàn thế giới vào những năm 1989-1990-1991, Việt Nam dẫu cố giữ cái gọi là Định hướng xã hội chủ nghĩa, thì ngay những nhà Marxist Việt Nam chắc chắn cũng sẽ không sao định nghĩa được hay hình dung cái chủ nghĩa xã hội nó ra làm sao mà định hướng, ngoại trừ yếu tố lừa bịp trắng trợn.

Tính bảo thủ, suy cho cùng là đặt quyền đặt lợi của cá nhân trong những tầng lớp lãnh đạo nối tiếp. Và chính họ, những thế hệ học trò được đào tạo trong các trường của chủ nghĩa xã hội, là tác nhân của xã hội đang xuống cấp trầm trọng hôm nay. Khi thể chế chính trị không thay đổi thì thật khó hy vọng nhân tài có chỗ đứng thích hợp trong xã hội. Và như vậy, giáo dục Việt Nam không thể đốt đuốc tìm ra thầy giỏi. Và khi không có thầy giỏi thì khó mơ đến những thế hệ trò giỏi. Khi không có thầy giỏi, trò giỏi, thì cũng thật khó đòi hỏi một đội ngũ trí thức thực học để đảm nhiệm trọng trách xây dựng một xã hội phát triển.

Chẳng nhẽ những nhà giáo dục Việt Nam, những nhà lãnh đạo đảng CSVN lại không có điều kiện để đọc Chiếu Cầu hiền, Chiếu Lập học của Hoàng đế Quang Trung? Trong lúc đó những người cộng sản Việt Nam lại mang cái chủ nghĩa Mác –Lênin qua Stalin và Mao Trạch Đông áp đặt vào đất nước ta, đạp lên cả tiền nhân mà đi. Đúng là một thời ấu trĩ, một thời cả tin, một niềm tin thật trong sáng, từ tâm, một thời lãng mạn, cái chất lãng mạn thật đẹp của những người cộng sản tiền bối. Nhưng năm tháng qua đi, giật mình nhìn lại mới thấy mình nhầm lẫn… thì đã quá muộn! Đất nước dẫm chân tại chỗ nếu không nói là tụt hậu quá xa so với nhiều bạn bè trong khu vực, và điều quan trọng là cái chủ nghĩa nhập cảng phi truyền thống đã phá nát ra từng mảnh vụn và làm đảo lộn lên tất cả mọi giá trị của một nền văn hóa có bề dày truyền thống đáng trân trọng đã trường tồn cùng thời gian suốt hàng nghìn năm. Không dễ ngày một, ngày hai mà khôi phục lại được những giá trị đạo đức của cha ông một thời hưng thịnh.

Trở lại câu hỏi, vì sao Nguyễn Tất Thành lại vào Quốc tế III? Câu hỏi cũng là câu trả lời cho giáo dục đang bế tắt hôm nay. Vào thời điểm đó, Nguyễn Ái Quốc biết rất rõ tương quan lực lượng giữa một nước thuộc địa như An Nam và tư bản phương Tây như Pháp. Một Trương Định thấy rất rõ thành Gia Định do vị tướng số một triều đình Nguyễn Tri Phương cầm quân đã thua tan tác như thế nào, vẫn chiêu mộ dân binh tiếp tục cuộc chiến cho đến hơi thở cuối cùng , một Nguyễn Trung Trực, một thủ khoa Huân, một Thiên Hộ Dương… Ý chí tự chủ của một dân tộc thật đáng nể trọng. Sự kiện vua Hàm Nghi bỏ lại kinh thành sau lưng kéo ra Tân Sở tiếp tục cuộc chiến với Hịch Cần Vương thật đáng tự hào về lòng yêu nước của một dân tộc có bề dày lịch sử từ Nam quốc sơn hà Nam đế cư thời Lý đến Bình Ngô đại cáo thời Lê. Rồi sau đó là một Phan Đình Phùng, một Hoàng Hoa Thám, rồi Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Thái Học… Nhưng những con đường cứu nước của những vị anh hùng ấy thật đáng trân trọng như những báu vật ghi đậm dấu ấn vào lịch sử giải phóng dân tộc nước nhà, nhưng sao Nguyễn Ái Quốc vẫn chưa thấy đủ độ tin cậy để tin theo và tiếp tục? Giữa kinh thành Paris, có bao nhiêu cuộc gặp giữa Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thế Truyền… để tìm con đường cứu nước hợp lý nhất?

Con đường khai dân trí của cụ Phan châu Trinh chưa được sự đồng thuận… Cuối cùng , vào năm 1920, Nguyễn Ái Quốc quyết định bỏ phiếu thành lập đảng cộng sản Pháp “vì đảng này có khuynh hướng bênh vực các nước thuộc địa trong đó có An Nam, tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho tổ quốc tôi”. Đó là câu trả lời của Nguyễn Ái Quốc với nữ đồng chí Kose và đó cũng là câu trả lời trực tiếp cho nhóm trí thức yêu nước lúc bấy giờ ở Pháp. Vào thời đó, Nguyễn Ái Quốc chưa biết gì về chủ nghĩa Marx, mãi đến khi Người gặp Luận cương của Lenin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa. Lúc ấy, Nguyễn Ái Quốc mới như tìm thấy con đường giải phóng dân tộc của mình. Và cũng từ đấy, Người mới bắt đầu tìm hiểu về chủ nghĩa Marx và tham gia Quốc tế III. Nhưng lịch sử cũng dần hé lộ cho thấy, từ năm 1924 Nguyễn Ái Quốc không được Stalin tin cậy, thậm chí Người còn bị gắn cho cái mác dân tộc chủ nghĩa! Chẳng lẽ Nguyễn Ái Quốc muốn coi chủ nghĩa cộng sản như một phương tiện? Câu hỏi còn bỏ ngỏ chờ thời gian.

Lịch sử cho thấy quy kết của Stalin là không sai. Từ chủ nghĩa dân tộc Nguyễn Ái Quốc cùng với toàn dân chớp thời cơ làm cuộc cách mạng tháng Tám 1945 thành công, một cuộc cách mạng không đổ máu mà kết quả trọn vẹn. Và từ đấy chúng ta có nước Việt Nam- dân chủ- cộng hòa, chúng ta có một chính phủ gần đủ mặt các anh tài đất Việt, chúng ta có Tuyên ngôn độc lập, chúng ta có một quốc hội, hội tụ các đảng phái khác nhau, (bây giờ gọi là đa đảng) để rồi chúng ta có Hiến pháp năm 1946, một hiến pháp tiến bộ nhất thời ấy ở Đông nam Á.

Nhưng rồi cuộc chiến tranh không cân sức vẫn xảy ra bất chấp mọi con đường tìm kiếm hòa bình, kể cả chấp nhận đứng trong khối liên hiệp Pháp, và kêu cứu tới tổng thống S. Truman của Hoa Kỳ cũng không được. Trong hoàn cảnh lịch sử ấy, Hồ Chí Minh bắt buộc phải rời bỏ kinh thành lên chiến khu Việt Bắc. Nhưng cuộc chiến không cân sức giống như cuộc chiến của Phan Đình Phùng ở rừng núi Hà Tĩnh, như cuộc chiến của Hoàng Hoa Thám ở Yên Thế… Điều đó không cho Hồ Chí Minh chọn lựa nào khác ngoài sự cầu viện Quốc tế Cộng sản mà lãnh tụ là Stalin.

Chủ nghĩa dân tộc phải chịu lùi một bước trước chủ nghĩa quốc tế vô sản? Chủ nghĩa Stalin và Mao tràn sang ta từ đấy. Khoảng năm 1950, các đoàn cố vấn chinh trị và quân sự Trung Quốc vượt biên giới sang chiến khu Việt Bắc giúp ta làm cuộc cách mạng giảm tô, cải cách ruộng đất, giúp ta xây dựng chính quyền công nông theo mô hình Hoa Nam của Trung Quốc!

Khi xã hội thay ngôi đổi chủ…

Sự phân hóa dân tộc bắt đầu từ đấy. Khối đại đoàn kết toàn dân bắt đầu chia năm xẻ bảy. Không ít người, trong đó có trí thức, văn nghệ sĩ, giáo sư, thương gia…bằng nhiều con đường đã trở về thành, chấp nhận cái án dinh tê. Một số khác làm đơn xin từ chức.

Khi xã hội thay ngôi đổi chủ, đẩy giai cấp công nông lên hàng lãnh đạo, thì giáo dục cũng phải chọn thầy giáo từ công nông và học trò cũng phải tập hợp từ những thành phần vô sản, tính giai cấp, tính đảng phải đặt lên hàng đầu. Điều ấy cắt nghĩa vì sao bộ trưởng không còn quyền hành lãnh đạo bộ mình nữa mà là thứ trưởng kiêm bí thư đảng, đoàn mới thực sự là người nắm mọi quyền. Ở trong một trường, người quyền lực cao nhất không phải là hiệu trưởng mà là bí thư chi bộ, bí thư đảng ủy. Những vị bí thư này trình độ học vấn thường rất hạn chế. Một nền giáo dục như vậy thật khó đòi hỏi chất lượng đủ tầm để đào tạo nhân tài nhằm xây dựng một xã hội phát triển, nếu không nói là chính những chủ nhân tương lai ấy sẽ là những kẻ phá nát xã hội một cách vô thức, mà những thế hệ cộng sản tiền bối đã phải trả bằng mồ hôi, xương và máu mới có được.

Khi giáo dục xuống cấp thì tác động của nó với xã hội là tác động dây chuyền, không ngành nào, không bộ nào, không địa phương nào tránh khỏi sự xuống cấp. Sự thoái hóa, sự xuống cấp, sự băng hoại đạo đức, văn hóa… của xã hội ngày một trầm trọng. Từ nền giáo dục mang tính lý lịch, tính đảng, bị áp đặt từ quốc tế III của Stalin và Mao! Và suy rộng ra đấy cũng là cái giá của sự cầu viện, một cái giá quá đắt cho dân tộc chúng ta!

Nguyễn Trãi từng viết: “Đại Việt ta hiền tài chưa bao giờ thiếu. Nhưng tìm cho ra hiền tài chưa bao giờ là việc đơn giản”, đặc biệt là tìm trong giai cấp công nông lại càng khó, mà phải đốt đuốc tìm trong mọi tầng lớp nhân dân, trong tầng lớp khoa bảng, trong tầng lớp trí thức, ở trong nước và ở khắp nơi trên thế giới. Những trí thức còn nhân cách bao giờ cũng có lòng tự trọng, đâu dễ bảo, dễ nghe. Đặc biệt tầng lớp kẻ sĩ Việt Nam thời trước cách mạng, vốn quen sống thanh sạch, giữ mình không dấy bẩn, dù là một vết nhỏ tanh hôi. Họ đòi hỏi sự tôn trọng, họ đòi hỏi lãnh đạo họ là người không cần chuyên môn hơn họ, nhưng có tài, có tâm trong sáng vì dân, vì nước thực sự, biết lắng nghe cả những lời nghịch nhĩ, chứ không phải là lập trường giai cấp, không phải tính đảng.

Thời kỳ đầu cách mạng, hầu hết trí thức Việt Nam bỏ lại sau lưng tất cả, để tham gia cách mạng là vì lòng yêu nước truyền thống, vì tình yêu dân tộc bất hạnh của mình, vì căm thù thực dân Pháp, chứ họ không vì quyền lợi của một giai cấp nào, kể cả quyền lợi của chính họ. Thời ấy có một số trí thức tin và theo Nguyễn Ái Quốc với “Bản án chế độ thực dân”, sau này là Hồ Chí Minh. Với họ thời đấy, ông là một trong những ngọn cờ.

a/ Khi không chọn được thầy giỏi tất sẽ không bao giờ có được trò giỏi. Không chọn được thầy có đạo đức tất sẽ gặt hái những người chủ tương lai gian xảo, tiểu nhân, không biết tư duy, chưa bao giờ có chính kiến, mà chỉ biết nghe theo, nói theo, làm theo nghị quyết, làm theo ý ông Mác, ông Lê, ông Xít, ông Mao nào đó, hoặc đón ý cấp trên để phát biểu cho trúng giọng. Đấy là loại người nịnh trên đạp dưới, mang danh tính đảng nhưng thực chất là loại nô lệ mới.

b/ Không có thầy giỏi, tất nhiên hệ lụy là giáo trình, là các công trình nghiên cứu, là sách giáo khoa phạm không ít sai lầm hết sức nguy hiểm! (Không đính chính xuể – cụm từ của GS Hoàng Tụy).

c/ Không có thầy giỏi và đạo đức sẽ không bao giờ tiếp cận được những phương pháp giảng dạy khoa học và tiến bộ, xây dựng được những công trình nghiên cứu khoa học để được thế giới công nhận.

Tìm người tài trong một nền giáo dục như vậy là điều hoang tưởng. Tôi xin loại trừ một số ngoại lệ do gen di truyền, do truyền thống hiếu học của gia đình còn sót lại sau nhiều biến thiên của xã hội, do lẩn tránh được những cuộc cải tạo, do được đi học và chịu khó học (chứ không phải đi buôn nồi áp suất) ở Liên Xô và các nước Đông Âu cũ.

Lịch sử còn đó một Nguyễn Huệ ba lần viết thư mời La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp cộng tác với mình, nhưng Nguyễn Thiếp vẫn từ chối. Cuối cùng đích thân Nguyễn Huệ phải đến tận nơi thuyết phục. Thời hiện đại chủ tịch Hồ Chí Minh ba lần viết thư mời Huỳnh Thúc Kháng. Cuối cùng cụ chịu ra, không phải để cộng tác mà để thăm dò và rồi trở thành người tin cậy của Hồ Chí Minh. Chính Hồ Chí Minh trong những ngày đầu cách mạng đã đăng Công thư tìm người tài: “Không thiếu những người tài có đức. E vì chính phủ nghe không đến thấy không khắp, đến nỗi những người tài đức không thể xuất thân”. Nhưng sự tin dùng này kéo dài chưa quá ba năm, thì trước áp lực của quốc tế cộng sản, buộc Hồ Chí Minh phải thay đổi cách dùng người theo truyền thống. Xã hội Việt Nam biến dạng từ đấy, trong đó sự biến dạng giáo dục là nguyên nhân của mọi nguyên nhân. Đảng cộng sản Việt Nam không phải không thấy sự biến dạng ấy:

Báo cáo trình Bộ Chính trị Hội nghị TW 6, lần hai, khóa 8 đề cập 5 kiểu chạy:

1/ “Chạy chức” trước khi bầu cử.

2/ “Chạy quyền” trước khi bổ nhiệm, thuyên chuyển công tác.

3/ “Chạy chỗ”, chỗ ngon kiếm được nhiều lợi.

4/ “Chạy lợi” khi phân chia ngân sách, xét dự án đầu tư, giao thầu, tính thuế, xét duyệt đề tài nghiên cứu, chạy bằng cấp, chạy tuổi.

5/ “Chạy tội” cho cá nhân, người thân … Dẫu sao thì những nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã nhìn thấy: một xã hội đang xuống cấp!

Nhưng ý thức hệ chính trị của Việt Nam cho tới hôm nay trong việc sử dụng hiền tài, từ thầy cô giáo phổ thông tới đại học vẫn theo nguyên tắc quan trọng số một là, trung thành tuyệt đối với chế độ xã hội chủ nghĩa, với đảng cộng sản (không là đảng viên đừng nghĩ tới chức phó phòng, trưởng phòng…) . Với nguyên tắc này, tự nó loại ra ngoài không ít hiền tài, không ít trí thức, không ít nhà giáo tài đức, tâm huyết với nghề.

Đấy chính là hậu quả nghiêm trọng của giáo dục xã hội chủ nghĩa, do những nguyên lý cứng nhắc về lý lịch của Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều quan trọng là tìm ra nguyên nhân để sửa chữa thì quả không dễ, bởi điều đơn giản: nguyên nhân nằm chính trong thể chế chính trị. Đụng tới thể chế chính trị là đụng tới điều cấm kỵ mang tính nguyên tắc bất di bất dịch, là đụng đến các bậc thánh hữu hình thực chất là ảo tưởng và ngoại lai.

Không có trí thì không thể hiểu người, không có nhân thì không thể chọn người, không có dũng thì không thể dùng người

Từ năm 1442,trạng nguyên Nguyễn Trực đã tâu với vua Lê Thánh tông: “Không có trí thì không thể hiểu người, không có nhân thì không thể chọn người, không có dũng thì không thể dùng người. Bệ hạ muốn quân tử tiến, tiểu nhân lùi thì không gì bằng gần gũi bề tôi khí tiết, sử dụng kẻ sĩ chính trực để họ đưa vua đi đúng đường và đặt vua vào đúng chỗ không lầm lỗi”.

Thời đại Quang Trung còn có Chiếu cầu lời nói thẳng: “Xưa kia bậc Thánh đế còn hư tâm hỏi đến hạ dân huống chi trẫm đây ít tuổi, chưa đủ hiểu biết, mong rằng thần dân trong ngoài khuyên bảo để cho trẫm được đức hạnh tốt” (Tổng tập VH VN 9A).

Rất buồn là nhiều nhà lãnh đạo của ta hôm nay, ít ai đủ bản lĩnh để tôn trí thức là quân sư của mình như Võ Văn Kiệt một thời, không ai đủ DŨNG để mạnh dạn dùng người tài mà không câu nệ tính đảng, tính giai cấp, đảng viên hay không đảng viên, cách mạng hay người ở bên kia của cách mạng… Người châu Âu, người Mỹ, người Nga và người ở các nước đông Âu hôm nay đã bước những bước vững chắc của kẻ DŨNG, kể cả Đảng Cộng sản Trung Quốc, cũng bắt đầu nhận ra sự cứng nhắc, tính giáo điều một thời trong cách dùng người. Còn không ít những nhà lãnh đạo của đảng ta mấy mươi năm nay vẫn còn đang ngủ say trên giường chiếu hẹp! Mọi sự biến chuyển bên ngoài là của thiên hạ! Suy cho cùng thì đấy là điều tất yếu của một nền giáo dục đã bị chính trị hóa triền miên hơn nửa thế kỷ qua mà không một chuyển biến nào khả dĩ gọi là cấp tiến.

Một xã hội hiện đại có các nguyên tắc chọn nhân tài rất cụ thể:

1/ Kỹ năng.

2/ Học vấn.

3/ Kinh nghiệm.

4/ Quan hệ.

5/ Văn hóa.

Không theo các nguyên tắc trên, những người thầy Việt Nam thời cách mạng đã cho ra lò những chủ nhân tương lai thật đáng hổ thẹn: Một xã hội không còn kỷ cương phép nước! Một xã hội mà đụng vào đâu cũng thấy lỗi: Lỗi hệ thống!

Khi đang là thủ tướng, Phan Văn Khải có lần bức xúc quá đã kêu lên: “Tại sao hệ thống chính trị của ta đầy đủ như vậy, mà cứ văn hóa đồi trụy, rồi xì ke ma túy… hết sức lộn xộn…” (TN ngày 19-10 -2006). Còn nguyên Phó Tổng thanh tra Nguyễn Văn Bình thì ví von hơn: “Hệ thống chính trị của mình như một cỗ xe chạy trên tuyến đường gồ ghề. Máy nổ rất to nhưng vận tốc lại chậm. Hỏi tài xế, tài xế bảo tại đường gồ ghề, hỏi đường, đường nói tại xăng… Tất cả là cái vòng lẩn quẩn, ở đâu cũng có lỗi, nhưng không ai nhận” (TN 19-10-2006).

Nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An, khi về hưu mới dám nói đó là một xã hội phong kiến nhiều vua (14 ông trong bộ chính trị là 14 ông vua). Một người đã từng ở trong guồng máy lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản đã nói, đã kêu lên như vậy, tôi nghĩ những nhà lãnh đạo hôm nay phải lắng nghe và nhanh chóng điều chỉnh mới phải. Nhưng thật buồn là dường như không ai để ý? Phải chăng họ vô thức đến mức không hiểu nổi một thực tế lỗi thời hiển hiện trước mắt họ, hay quyền lợi đã biến họ lì lợm, mất cả nhân cách?

Tôi nghĩ xã hội phong kiến rõ ràng lạc hậu hơn so với xã hội tư bản, nhưng so với cái gọi là xã hội chủ nghĩa bạo lực – mà Lenin tìm thấy ở học thuyết Marx-Enghels thời kỳ tuổi trẻ của hai ông – của chúng ta hôm nay, thì cái kỷ cương phép nước, cái cách chọn nhân tài… của xã hội thực dân, phong kiến quy củ hơn nhiều, công bằng hơn nhiều, trong sáng hơn nhiều, đặc biệt là trong giáo dục. Tiên trách kỷ hậu trách nhân, trước tiên những người cộng sản tự trách chính mình, vì sao hiền tài lại thưa vắng trong một xã hội mà chúng ta luôn ca ngợi là tốt đẹp, là tự do dân chủ gấp vạn lần xã hội tư bản? Câu trả lời nằm ngay trong mục đích sử dụng nhân tài. Khi nhân tài, khi trí thức buộc phải coi ý thức hệ là chính thống, tự nguyện xin vào đảng, phục vụ đảng, chịu mọi sự điều hành của đảng cầm quyền và phục vụ cho lợi ích của đảng cầm quyền theo nguyên tắc cấp dưới phục tùng cấp trên, thì chính những trí thức đó đã đánh mất nhân cách của chính mình. Tự thân việc chọn nhân tài và sử dụng nhân tài theo cách trên, những nhà lãnh đạo của đảng đã tự mình cô lập với dân tộc mình, thật khó hy vọng nhân tài còn nhân cách hết lòng phục vụ cho đất nước, cho nhân dân mình. Không dễ ai còn tin ở một đất nước như vậy lại có một tầng lớp trí thức thực sự đủ độ tin cậy của nhân dân như một thứ nguyên khí quốc gia nữa!

Giáo dục phát triển theo hình chóp

Giáo dục nước nào cũng phát triển theo hình chóp. Sự đào thải của giáo dục là theo đúng quy luật chọn nhân tài. Trong việc học, ngoài tài năng, sự cần cù, kiên trì, chịu khó, thì không thể không nhắc đến yếu tố dòng họ, yếu tố con nhà nòi, yếu tố di truyền, yếu tố gen… Chẳng lẽ Marx quên mất điều đó. Thật là mâu thuẫn khi nhiều người gọi Marx là nhà duy vật biện chứng, trong nhiều công trình nghiên cứu của ông, ông là nhà duy tâm chủ quan. Marx lên án sự bóc lột tàn bạo của chủ nghĩa thời tiền tư bản có thể là đúng ở thời kỳ đó, nhưng ông kêu gọi xây dựng chính quyền công nông là không thực tế, thậm chí phản khoa học. Ông quên mất đặc điểm hay bản chất của lao động công nông là cơ bắp. Sự phát triển xã hội thời nô lệ và phong kiến cần sự lao động cơ bắp của nông dân và công nhân để phát triển xã hội. Nhưng ngay cả trong xã hội nô lệ hay xã hội phong kiến thì người đứng đầu nhà nước đó cũng phải có tài và có đức. Lịch sử còn đó những nhà nước sớm suy vong vì nhà lãnh đạo vô tài và thất đức. Nhưng đến thời đại tiền tư bản, công nghệ mới thực sự là động lực của xã hội phát triển. Công nghệ đòi hỏi khả năng tư duy của con người, tư duy là sản phẩm của trí tuệ, của bộ não, của trí thức… Bản chất của trí thức là lao động trí não, trí tuệ, là sáng tạo, là tự phủ định chính mình ngày hôm qua để tìm một cái mới hơn, khoa học hơn. Hôm nay người ta gọi đấy là phản biện, trong khoa học gọi là phủ định.

Sự nhầm lẫn của Marx thời tuổi trẻ ấy, ở cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, nhiều người nhìn thấy rất rõ, nhưng nhiều nhà lãnh đạo của ta lại không chịu lắng nghe bất kỳ một ai, một lòng tôn thờ Marx như một vị Thánh, coi học thuyết Marx- Enghels là kinh điển, bất di bất dịch. Và hệ lụy để lại trước tiên trong giáo dục Việt Nam là quá nhiều bất cập. Trên 60 năm xây dựng nền giáo dục công nông, nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, nhưng bằng cấp của chúng ta không nước nào công nhận, dẫu chúng ta nhồi nhét con em chúng ta một cách dã man. Hàng ngàn sinh viên ra trường mỗi năm không có việc làm ngay ở trong nước. Người nước ngoài muốn chọn những sinh viên giỏi người Việt để dùng cũng phải bỏ kinh phí đào tạo lại. Chưa nước nào như nước ta không học cũng lấy được bằng, bằng thật hẳn hoi. Người ta gọi đó là loại học giả bằng thật, còn có loại học giả bằng giả. Không ở đâu như ở Việt Nam ta hôm nay: muốn loại bằng gì cũng có, từ bằng lái xe đến bằng bác sĩ, dược sĩ, từ bằng thạc sĩ, tiến sĩ đến học hàm học vị, có tiền là có tất cả. Đấy là hiện tượng hay bản chất? Suy cho cùng thì đấy là bản chất của giáo dục vô sản mang đậm màu sắc Stalin, Mao. Khi công nông lên hàng lãnh đạo thì kèm theo đó là sự dốt nát cầm quyền. Sự dốt nát cầm quyền có bốn cái họa:

1/ Phá hoại! như Lenin từng chỉ ra.

2/ Không chấp nhận ai hơn mình! Đấy chính là tính tiểu nhân. Tính tiểu nhân ở hàng lãnh đạo thì xã hội đó thật đáng sợ!

3/ Từ đấy xã hội chỉ có đám nịnh thần. Lịch sử cho thấy không quốc gia nào phát triển được khi xã hội không có phản biện mà chỉ có nịnh thần! Chỉ có một giọng!

4/ Cái xã hội dân chủ gấp triệu lần kiểu dân chủ tư bản dần biến thành một xã hội độc tài, độc đoán, thích toàn trị, e ngại luật pháp mà lại thích luật thời chiến: luật rừng!

GS Nguyễn Văn Huyên là một trong những vị bộ trưởng viết đơn xin từ chức vì lòng tự trọng của kẻ sĩ, từ khi chủ nghĩa Mao sang (xem hồi ký cụ Vũ Đình Hòe). Bộ trưởng đại học và trung học chuyên nghiệp Tạ Quang Bửu vì bảo vệ cho quyền được học của những học sinh giỏi vào các trường đại học, không phân biệt thành phần giai cấp, mà phải im lặng trước bao nhiêu oan khuất, sống để bụng chết mang theo… Sau Tạ Quang Bửu là Bộ trưởng Nguyễn Đình Tứ, Trần Hồng Quân, đều khẳng định muốn cải cách giáo dục, phải làm lại từ đầu. Tôi nghĩ họ là những người tài thật sự, nhưng rất tiếc, không nhà lãnh đạo nào nghe họ!

Người cuối cùng tôi muốn nhắc ở đây là cố thủ tướng Võ Văn Kiệt. Ông là một cố nông thật sự, nhưng cũng chính ông từ những năm 80 đã phản ứng với cách chọn đầu vào cho ngành giáo dục theo kiểu lập trường… Với cương vị bí thư thành ủy TP HCM, ông trực tiếp tìm đến gặp hiệu trưởng một số trường đại học để xin cho một vài em nào đó học giỏi vì “dính” thành phần mà không được học. Ông nói sau khi thầy đã chấp thuận: Con người, có ai chọn cửa mà sinh ra được đâu! Sau đó chính ông trực tiếp gặp bộ trưởng Bộ Giáo dục, phản ứng về vấn đề lý lịch khi tuyển chọn nhân tài tương lai cho đất nước. Ông nói thẳng: nhà trường làm vậy thì lấy đâu nhân tài cho mai sau. Vị bộ trưởng im lặng, vì đấy là việc làm ngoài tầm của họ. May mắn là sau năm 1990, việc tuyển sinh đã cởi mở hơn, có lẽ vì mặt bằng xã hội đã thuần nhất, do sự cứng rắn của nền chuyên chính vô sản. Nhưng còn bao nhiêu thầy giỏi và có đạo đức đáng tin cậy?

Đáng lẽ phải chấn hưng giáo dục, cải cách từ bản chất giáo dục nước nhà, thì nhiều nhà lãnh đạo trung, cao cấp của đảng lại gởi con ra nước ngoài để học, chủ yếu là các nước tư bản phát triển như Hoa Kỳ, Anh, Pháp! Vì sao có hiện tượng ấy? Những thế hệ nhân tài tương lai ấy sẽ trở về phụng sự đất nước, hay chảy về đâu? Giáo dục Việt Nam có trả lời được câu hỏi này cho dân không? Tôi nghĩ, nếu biết lắng nghe những lời nói thẳng, nói thật, dù có nghịch nhĩ đấy nhưng chắc sẽ tìm ra lời giải cho giáo dục hôm nay.

Kế thừa trong giáo dục là nguyên tắc bất di bất dịch

Tiền nhân có nhiều điều để học lắm sao ta nỡ coi thường? Chỉ riêng điều đó thôi ta quả đắt tội với cha ông trong hành xử hôm nay. Một xã hội vốn nổi tiếng về bề dày văn hóa, đã bị biến dạng, bị xáo trộn, sự nhố nhăng lên ngôi, sự tàn bạo trở thành quen thuộc, sự cướp giật được bảo vệ của Đảng Cộng sản theo tôn chỉ của Marx. Một nền văn hóa như vậy thật khó có chỗ cho những nhà văn hoá, cho những nhà khoa học, cho những nhà giáo dục tâm huyết, cho những trí thức thực học nói thẳng, nói thực. Đó là câu trả lời cho câu hỏi vì sao xã hôi hôm nay lại thưa vắng những nhà văn hóa?

Khi một xã hội mà cái nền của văn hóa bị biến dạng thì khó hy vọng sẽ có một nền giáo dục lành mạnh, chứ chưa dám nói là tiến bộ. Hệ lụy của việc trồng người ở Việt Nam bắt nguồn từ đây. Tôi không tin những nhà lãnh đạo cao cấp của Đảng CSVN không biết xã hội Việt Nam đang hình thành một giai cấp tư sản mới mà dân gian gọi là tư sản đỏ? Và khoảng cách giàu nghèo là trầm trọng! Tôi không tin những nhà lãnh đạo cao cấp Việt Nam lại không biết sự băng hoại về đạo đức ở xã hội Việt Nam hôm nay đến mức báo động?

Các nhà giáo dục tâm huyết Việt Nam đã bỏ bao nhiêu công sức và trí tuệ cho một nền giáo dục đang trên bờ vực… xuống cấp! Tự đáy lòng minh, tôi kính trọng nhiều nhà giáo dục tâm huyết với giáo dục nước nhà, nhưng tôi thấy dường như các nhà giáo dục của ta chỉ tập trung vào phần chuyên môn như quản lý giáo dục, phương pháp giảng dạy, biên soạn công trình, sách giáo khoa, theo những tiêu chí gọi là chủ nghĩa xã hội!

Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận ra sai lầm trong đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội: Đó là sự nóng vội khi xây dựng một nhà nước công nông bằng sự tập trung quan liêu bao cấp, quốc hữu hóa toàn bộ từ cây kim, sợi chỉ, từ chén cơm manh áo, đi tắt đón đầu… Một xã hội không còn tư hữu, không còn cá nhân – kể cả tư duy, kể cả suy nghĩ… Đó là thời trong giáo dục chỉ có triết học Marx, thực chất là triết học Mao và Stalin, đó là thời văn nghệ phục vụ chính trị, mọi giá trị nghệ thuật chân chính bị lên án nặng nề nhất trong lịch sử nghệ thuật nước nhà… Đó là thời đảng là thống soái! Bao nhiêu nhân tài đã bị trù dập vì bị vu tội chống lại “thống soái”! Đất nước rơi vào bần cùng, khốn khổ, khốn nạn! Đổi mới xuất hiện như vị cứu tinh. Nhưng đổi mới này chỉ mới dám thay đổi học thuyết Marx ở phần kinh tế thị trường. Phần còn lại thuộc ý thức hệ bị một số bảo thủ cố níu kéo để giữ cho được cái mô hình cũ đã bị loài người từ bỏ và thêm vào đó hai chữ định hướng. Định hướng về một cái chưa biết, định hướng về một nơi chưa rõ thì thật không ai hiểu nổi!

Sự dấn thân chân tình

Suy cho cùng sự thiếu thông tin của một thế hệ tìm đường người Việt Nam đầu thế kỷ 20 đã gặp phải một thế giới đại đồng trong thần thoại của văn hóa tuyền khẩu ngàn xưa …mà tưởng gặp vị cứu tinh cho dân tộc mình. Sự dấn thân, sự xả thân rất chân tình của bao nhiêu thế hệ người Việt cho cái thế giới đại đồng ấy thật là đẹp, thật là cao cả và cũng đáng được lịch sử ghi nhận. Hoàn cảnh lịch sử ấy của một dân tộc mất nước, nô lệ, lầm than, hàng triệu người phải chết đói, là nỗi đau quá sức chịu đựng, là nỗi nhục ăn sâu tận cùng xương tủy của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội. Xét động cơ của thế hệ cộng sản đầu tiên người An Nam không thể tách rời xã hội Việt Nam cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 ấy được. Và đấy cũng chính là câu trả lời, vì sao người cộng sản thời ấy lại có chỗ đứng được trong lòng dân người Việt Nam.

Hậu thế vẫn không quên trong hoàn cảnh quẫn bách của dòng họ, Nguyễn Ánh đã gởi hoàng tử Cảnh cho Bá Đa Lộc qua cầu viện Tây Dương. Những trang sử thời cận đại ấy không thể không gợi mở cho những trang sử thời hiện đại. Cho đến năm 1949 vẫn chưa nước nào công nhận chính phủ Hồ Chí Minh, cuộc chiến như mới bắt đầu nhưng vũ khí, đạn dược lại cạn kiệt! Đụng đầu với một đế quốc hùng mạnh như Pháp, lại được sự giúp đỡ của Mỹ, là việc không hề đơn giản. Đấy chính là thời điểm Hồ Chí Minh không thể không cầu viện. Mọi cầu viện đều phài trả giá. Không ai ngờ cái giá phải trả lại quá đắt! Hai hiện tượng lịch sử ở hai thời điểm khác nhau nhưng hệ lụy của nó để lại thì không dễ ngày một ngày hai có được những đánh giá công bằng, sòng phẳng. Tôi nghĩ hôm nay những người đương thời nhìn mọi vấn đề hôm qua bao giờ cũng sáng sủa hơn, nhưng nhìn với con mắt khách quan và cảm thông để hiểu người xưa thì đòi hỏi phải có bản lĩnh và trí tuệ, khách quan và am hiểu lịch sử nước nhà, thì dễ được nhân dân đồng tình, còn đem sự hận thù ra quy kết, đem sự chủ quan, duy ý chí ra phán quyết, thì sẽ khó thuyết phục.

Nhân dân Việt Nam tuy ít học nhưng cái triết lý sống thì không kém bất kỳ một dân tộc nào: trọng người tài, coi hiền tài là nguyên khí quốc gia, trong làng có ai đỗ khoa thi hương, thi đình, thì đấy là niềm tự hào, niềm hân hoan của cả làng, cả làng lại tổ chức đón rước trọng thể. Ấy thế mà tới thời cách mạng, người tài, người có học, lại trở thành cái họa cho cả nhà, cho cả dòng họ! Lenin từng tuyên chiến với trí thức qua thư gởi Goocky: “Các lực lượng trí thức của công nông đang trưởng thành vững mạnh trong cuộc đấu tranh lật đổ tư sản và bọn đồng lõa, lũ trí thức – đầy tớ của tư bản, những kẻ tưởng mình là bộ não của quốc gia. Trong thực tế, bọn chúng không phải là bộ não mà là cứt!” Mao Trạch Đông thì lên án trí thức không bằng bãi phân bò! Ở Việt Nam sau vụ án Nhân văn, có biết bao nhiêu nhà triết học như Trần Đức Thảo phải đi chăn bò? Ở Nga thì bao nhiêu trí thức phải đi đày Sibieria? Còn ở Trung Quốc, qua những Công xã Nhân dân, Đại Nhảy vọt, Cách mạng Văn hóa… bao nhiêu nhân tài bị đày ải, bị hành hạ cho đến chết?

Giáo dục của ta hôm nay đã bị áp đặt theo những quan điểm nhập cảng phi truyền thống trên từ Stalin và Mao Trạch Đông.

1/ Trồng người là một công việc khó nhất trong mọi công việc của một nhà nước mới phôi thai. Nhưng đảng cộng sản đã lấy ý thức hệ làm điểm quy kết. Và đấy là câu trả lời cho việc vì sao người ta không chọn những thầy giỏi, có uy tín, có phương pháp giảng dạy, những nhà sư phạm từng có công trình nghiên cứu nghiêm túc, sáng giá, lại chọn những sinh viên con em công nông, hoặc có thành phần cốt cán để đào tạo cấp tốc vài ba năm, ra trường vội vã, rồi đẩy lên bục giảng ở các trường đại học để giảng cho sinh viên. Mặc dù vẫn có những sinh viên giỏi, nhưng đại bộ phận là những con rối, giảng theo giáo trình, giảng theo chỉ đạo từ cấp trên. Khoa học tự nhiên còn đỡ, khoa học xã hội mà chỉ được nghe theo, nói theo, làm theo thì thật là nguy hiểm. Người ta phủ nhận từ Hoài Thanh, Hoài Chân đến Xuân Diệu, Huy Cận, từ Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, đến Yến Lan, từ Nguyễn Xuân Sanh đến Nguyễn Tuân, từ Hoàng Cầm đến Nguyễn Bính, Hữu Loan, từ Phùng Quán tới Lê Đạt, Trần Dần, Quang Dũng. Người ta lên án từ Thơ Mới đến Tự lực Văn đoàn… Sử học gần như bị hụt hẫng. Những GS lịch sử như GS Trần Văn Giàu, GS Đào Duy Anh…không còn ai dám nhắc tới. Năm 1990, tôi đi quán sách vỉa hè mua cuốn Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim mà người bán còn mắt trước mắt sau, sợ bị quy kết phát tán văn hóa phẩm phản động! Triết học thì còn lại Mác – Lenin. Một sự phủ định những giá trị đích thực đã đẩy giáo dục Việt Nam thời hiện đại đi vào những thô thiển đôi khi ngớ ngẩn, sự ngớ ngẩn này nối tiếp sự ngớ ngẩn kia, dẫn tới một xã hội mà sờ vào chỗ nào cũng thấy sai lầm, cũng thấy mâu thuẫn! Nhưng có điều lạ là không ai chịu trách nhiệm. Trách nhiệm tập thể, vậy là hòa cả làng. Và đấy là hệ lụy của một xã hội:

a/ Xã hội vô chính phủ, núp dưới bóng tập thể tranh nhau vơ vét. Tham nhũng bắt đầu từ luật pháp thiếu nghiêm minh, nhưng trước tiên là bắt đầu từ văn hóa của con người. Văn hóa con người bắt đầu từ giáo dục. Giáo dục lấy việc đào tạo những con người có nhân cách làm trọng. Con người có giáo dục rất sợ đánh mất nhân cách vì những thứ tư lợi. Giáo dục công nông không dạy học trò cái thứ nhân cách mà họ cho là “phong kiến”. Khi tham nhũng tràn lên thì ai cũng kêu, cũng gào, nhưng ít ai nhận ra nó bắt đầu từ giáo dục. Vì vậy, dù người đứng đầu nhà nước có trăm ngàn lần quyết liệt chống tham nhũng, tham nhũng không vì thế mà giảm bớt. Thực tế cho thấy càng chống, tham nhũng càng trở thành quốc nạn! Không ít nhà lãnh đạo tâm huyết thấy mối nguy cơ mất nước bắt đầu từ thứ giặc nội xâm này. Nhưng bứt dây động rừng, động tới những chiếc ô không nhỏ đôi khi lại mang họa! Và điều quan trọng là đụng tới bản chất đầy khuyết tật của thể chế chính trị, đang là nền tảng của mọi quyền lực hiện hữu trong xã hội ta!

b/ Đất nước đã hội nhập, trình độ dân trí đã được nâng cao, nhân quyền và dân chủ dần trở thành hơi thở của mọi tầng lớp dân chúng, đặc biệt là ở giới trí thức, ở giới trẻ… Tiếng nói phản biện của họ tác động không nhỏ tới dân chúng, tạo thành một sức mạnh, một quyền lực mềm có thể xảy ra những đột biến khó lường! Đấy chính là lúc những nhà lãnh đạo phải tính toán mọi khả năng xấu nhất để đề phòng. Nếu là thời đại Quang Trung, Người sẽ lắng nghe tất cả để điều chỉnh lại những bất cập trong triều đình, thì thời cách mạng người ta lại nghĩ tới nhà tù và trại giam, người ta lại nghĩ tới “âm mưu của bọn thù địch”. Lịch sử thời cách mạng vẫn còn đó, lãnh tụ quốc tế cộng sản Stalin, Chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc, Mao Trạch Đông, tập đoàn cộng sản Khơ me đỏ Polpot… Bao nhiêu triệu người lương thiện đã ngã xuống một cách oan uổng?

2/ Cách chọn đầu vào cho giáo dục nói theo ngôn ngữ hôm nay là tuyển sinh.

Sau khi đánh tan 29 vạn quân Thanh, hoàng đế Quang Trung trở về Nghệ An bàn ngay với La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp việc đào tạo nhân tài cho đất nước. Nước mạnh hay yếu, cương hay suy là nhờ ở nhân tài. Nhân tài bao giờ cũng là rường cột của nước nhà. Suy nghĩ của Quang Trung đã gặp ngay ý tưởng của Nguyễn Thiếp. Tôi thật sự không hiểu sao các nhà giáo dục Việt Nam, các nhà sử học Việt Nam lại không nhắc đến giáo dục thời đại Quang Trung? Học ngay trong Chiếu Lập họcc của Quang Trung cách chọn thầy giỏi và đạo đức, cách chọn trò sáng sủa và thông minh, gợi mở cho nền giáo dục của ta hôm nay. Hơn lúc nào khác, lúc này Đảng Cộng sản Việt Nam nên đặt lợi ích dân tộc lên trên lợi ích của chính mình, trước tiên là trong việc chọn nhân tài cho đất nước, trong đó có thầy giỏi cho giáo dục. Ai có lòng với đất nước cũng thấy sự cứng nhắc trong những tiêu chí có tính nguyên tắc là: trung thành với đảng, với chủ nghĩa xã hội đã loại ra ngoài không ít nhân tài. Số nhân tài này chọn những quốc gia quý trọng nhân tài để cống hiến. Một dân tộc khi chảy máu chất xám thì dân tộc đó sẽ mất sinh khí, bạc nhược và hệ lụy là suy thoái và dẫn đến mất nước.

Thay lời kết

Dù muộn nhưng tôi vẫn mong các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam hôm nay noi gương những nhà lãnh đạo cộng sản tiền bối, một lần nữa dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, để hiểu xã hội nước nhà đang xuống cấp đến mức báo động đỏ mà nhanh chóng trở về với cội nguồn dân tộc, lấy chính sách coi người tài là nguyên khí quốc gia như thời Lê Thánh Tông, coi việc dựng nước lấy dạy học làm đầu, muốn thịnh trị lấy nhân tài làm gốc như thời Quang Trung, coi chính sách đại đoàn kết thời kỳ đầu Cách mạng Tháng Tám của Hồ Chí Minh làm trọng, mạnh dạn xa rời cái chủ nghĩa xã hội bạo lực lấy chuyên chính vô sản bảo vệ cái ý thức hệ lỗi thời, thì may ra còn cứu vãn được sự ổn định xã hội và đưa đất nước thoát khỏi suy vong !

Và chính lúc đó chúng ta mới hy vọng về một xã hội quy tụ hiền tài, về một nền giáo dục có thầy giỏi và có trò giỏi. Và 20 năm, 30 năm, 50 năm sau, chắc chắn dân tộc chúng ta sẽ là một dân tộc cường thịnh đứng ngang hàng với nhiều dân tộc văn minh khác mà không hề thấy hổ thẹn. Và lúc ấy, con cháu chúng ta sẽ nói chuyện với người đồng chí môi răng về những gì chúng đã cướp của chúng ta hôm nay bằng sự lừa bịp từ những ngày đầu cách mạng tháng tám 1945: bốn phương vô sản đều là anh em, môi răng, đồng chí, 16 chữ vàng và 4 tốt!

Hoàng Lại Giang

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s