Tôi lấy bằng cao nhất của Mỹ nhờ…ngày nhỏ học dốt! (Tam Mao thực hiện) (Entry for May 17, 2007)

Bài 1:

Tiến sĩ Dương Ngọc Dũng:

Tôi lấy bằng cao nhất của Mỹ nhờ…ngày nhỏ học dốt!

(Tam Mao thực hiện)

· Người có bằng thạc sĩ Đại học Harvard, tiến sĩ Đại học Botton này cho rằng giáo dục Việt Nam đang “động kinh, quằn quại” trước hội nhập nhưng tương lai lớp trẻ tươi sáng hơn bao giờ hết…

(St) Học “xé sách”!

– Thưa ông, bảo vệ thành công luận án ở trường hàng đầu Hoa Kỳ và cũng là hàng đầu thế giới, hẳn ngày nhỏ ông học giỏi không ai bằng?

+ Không bằng ai thì chính xác! Mẹ bán bánh dạo nên đến khoảng lớp sáu (bây giờ) thì tôi mất trớn vì không đủ tiền để học trước chương trình như bạn bè. Tôi phải “cà lết” chép bài bạn, gian lận thi cử để lên đến lớp chín. Môn Anh văn là một cực hình của tôi lúc đó vì ông thầy luôn “thủ sẵn” tay ở bắp vế non… May tôi có người bạn tên Cường học tiếng Anh rất giỏi nên cho chép. Lần đó thi học kỳ, Cường bảo: “Mày ngu quá, dễ vậy mà cũng phải chép nữa, mấy lần trước mày chép tao y chang như vậy thì hai đứa “ăn hột vịt lộn” luôn bây giờ!…”. Câu nói đó làm tôi xấu hổ. Như giọt nước tràn ly, tôi ngộ ra: “Tao không chép mày nữa, ba tháng sau tao sẽ giỏi Anh văn hơn mày”. Tôi kiếm tự điển về tự học ngày đêm. Mỗi ngày xé một tờ, vào nhà vệ sinh trừng phạt bằng cách thề không học thuộc không ra. Kết quả đúng ba tháng sau tôi thuộc loại “thần đồng” Anh văn, chuyên cá cược với bạn bè kiếm tiền bằng cách xé bất kỳ trang tự điển nào cũng đọc thuộc. Giỏi Anh văn tạo cho tôi một bước ngoặt lớn trong cuộc đời…

– Liệu chăm chăm học Anh văn không thôi có bảo đảm kiến thức phổ thông?

+ Tôi rút ra rằng khi người ta có ý chí, đặt hết tâm hồn vào việc gì đó thì chắc chắn người ta thành công. Nguyên tắc này không phải của Jack Canfild nói mà chính là bản thân tôi cũng tự nghiệm ra (TS Dũng là người được mời dịch cho Jack Canfild, tác giả bộ sách “Súp gà cho tâm hồn”, bán chạy nhất gần đây và là diễn giả hàng đầu thế giới vừa đến Việt Nam – NV). Ý mình muốn nói là ngay một người kém như mình mà cố gắng đặt hết ý chí vào một việc thì vẫn giỏi như thường. Sau này, nhờ giỏi Anh văn nên tôi kiếm được học bổng du học Mỹ…

– Nhưng tại sao tôn giáo học nói chung và Phật giáo nói riêng ở Việt Nam phát triển khá mạnh mà ông lại phải sang Mỹ để học ngành này?

+ Đó cũng là điều oái oăm! Lý do đơn giản là hồi tôi dạy Đại học Tổng hợp TP.HCM (cũ), các suất học bổng “dễ xơi” như Học và tham quan (học như đi du lịch, không có bằng nhưng tiền nhiều nhất); Master (thạc sĩ) đã bị “sếp” ưu tiên cho bản thân và người thân. Còn lại suất học bổng tiến sĩ khó gặm thì nhét cho tôi. Trời xui sao tôi lại trúng! Lúc đó, người phỏng vấn hỏi: “Mày giỏi tiếng Anh sao lại xin học Phật học?”. Tôi nói: Vì ở Việt Nam có nhiều chùa, nhiều tu sĩ nhưng là tín ngưỡng thôi chứ chưa được dạy bài bản với tư cách là một ngành khoa học của Phật giáo. Nếu tôi học xong thì tôi tự hào rằng tôi là người Việt đầu tiên học Đại học Havard về Phật học. Sau khi tốt nghiệp, tôi đã chứng minh được những điều “khác thường” ngày đó tạo nên niềm tự hào hôm nay vì tôi đủ khả năng cống hiến về lĩnh vực này…

(St) Phương pháp sư phạm “vứt” nếu không yêu nghề!

– Được biết ông có một năm học ở Úc về phương pháp sư phạm. Ông có chia sẽ gì về những kiến thức học được này?

+ Theo tôi, mọi phương pháp sư phạm đều vứt vào sọt rác nếu bản thân người thầy không yêu thích môn đó. Khi người ta thích thì sẽ cuốn hút vào chiều sâu vấn đề, phân tích mọi góc cạnh từ trong ra, ngoài vào một cách lý thú. Những ông thầy của mình ở Mỹ cũng đâu thấy phương pháp gì đâu! Họ lên lớp tay không, giảng thì “rút từ trong ruột ra” những kiến thức thâm hậu và truyền đạt nhiệt huyết. Tôi thấy họ khác ta là không soạn giáo án vì họ bảo nhiều cuốn sách viết hay rồi thì soạn làm gì nữa? Sự khác biệt dễ thấy là họ rất yêu nghề… Còn ở ta bây giờ, nhiều người làm thầy chỉ hiểu theo nghĩa là một cái nghề “kiếm cơm” chứ không phải là người thầy thực sự trong bản thân. Sự khác biệt nữa là ở ta Bộ Giáo dục và Đào tạo cho in cả trọng tâm giáo án…

– Ý ông muốn nói là chính Bộ Giáo dục và Đào tạo không những bao cấp cả tổ chức, vật chất mà còn bao cấp cả chương trình?

+ Từ “bao cấp chương trình” này khá thú vị đấy! Về chương trình không những Bộ quy định bao nhiêu tiết học mà còn quy định cả bài giảng phải mấy phút, thậm chí chia ra mục nào mấy phút. Vì vậy nhà trường còn phải kiểm tra, dự giờ và thường nhận xét “cháy giáo án hay không?”… Sở dĩ có sự bao cấp chương trình như thế vì nền giáo dục của mình không tin tưởng vào sản phẩm do mình tạo ra nên mới có “bùa” hướng dẫn giáo viên như thế. Thậm chí tiến sĩ đi xin giảng dạy cũng bị nghi ngờ “tiến sĩ giấy”. Trường hợp nể nả cho dạy thì phải hướng dẫn, kiểm tra. Trong khi đó, ở các nước những việc như thế hoàn toàn không xảy ra vì họ tin tưởng tuyệt đối vào sản phẩm do mô hình giáo dục của họ tạo nên. Hãy xem ở ta, Bộ trưởng giáo dục bao năm, về hưu rồi mới đi học tiếng Anh…

– Xin trở lại với phương pháp sư phạm, ông có thể nói rõ hơn là làm sao cho hiệu quả trong việc dạy và học hiện nay?

+ Điều đầu tiến phải là sự tự học. Phương pháp dạy tối ưu là làm sao kích thích cho người ta tự học. Một triết gia Hy Lạp nói rất hay rằng: “Con người không phải là bình nước để đổ đầy, mà là một ngọn lửa để được thắp sáng lên. Ông thầy chính là cái hộp quẹt để bật lửa sáng lên”. Rõ ràng mọi tiềm năng học vấn, sự thông minh, uyên bác là có sẵn trong người học trò hết rồi. Người thầy chỉ là cái bùi nhùi khơi dậy ngọn lửa đó mà thôi. Mô hình giáo dục của mình hiện nay là mô hình cái phểu, trong đó đầu ông thầy là cái phểu trên, đầu của học trò là phểu dưới. Kiến thức như nước rót xuống, số vào được “phểu của trò” phụ thuộc nhiều yếu tố may rủi và phần nhiều chảy ra ngoài. Còn người ta thì theo mô hình ngọn đuốc và hộp quẹt thì thầy trò rất dân chủ. Thầy không cao hơn trò mà chỉ đóng vai trò khơi dậy bản năng cho trò mà thôi.

– Nghe ông nói có thể hình dung ông là người yêu nghề và quý trọng học trò, nhưng môn mà ông đang dạy ở trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM (Phật học) nghe ra không “thời thượng” lắm như kinh tế, ngoại thương, bách khoa…?

+ Hãy tưởng tượng môn mà tôi dạy ở khoa Đông Phương lúc đầu chỉ hơn chục sinh viên học, là môn tự chọn nhưng nay trở thành môn bắt buộc. Sinh viên học ngày càng đông và học say mê. Chúng ta nên hỏi lại tại sao những cuốn sách dạy làm người hiện nay trên thế giới và cả Việt Nam lại bán chạy như tôm tươi? Theo tôi, người học phải thấy được mình như một ngọn nến thắp lên để sưởi ấm một phần cuộc sống còn nhiều giá lạnh thì sẽ thành công. Khi anh học để đốt được ngọn lửa có ích lên thì nhà cửa, xe hơi sẽ vào ào ào chứ không cần bận tâm trước môn học có thời thượng không?…

– Nhưng …nghe có vẻ lý thuyết quá, mà lý thuyết trong giáo dục đang bị “đưa ra mổ xẻ” thưa ông?

+ Tôi là người chúa ghét lý thuyết suông! Một ngàn câu lý thuyết mà không làm được gì trong thực tế cũng vứt! Ít nhất một người học xong cũng giúp cho một người nào đó quên đi nỗi đau buồn thì mới không vô ích. Đúng là giáo dục của mình nặng lý thuyết mà không ít lại…lý thuyết trật nữa!…

– Tại sao thưa ông?

+ Xuất phát từ mô hình giáo dục lỗi thời đến độ chính ngành giáo dục không tin vào sản phẩm của mình nên lý thuyết trật không hiếm. Giáo dục của ta như đang động kinh, co giật, quằn quại trước tòan cầu hóa…

(St) Tôi thích tranh luận

– Ông có vẻ bi quan về nền giáo dục góp phần không nhỏ để ông bảo vệ thành công tiến sĩ ở Mỹ?

+ Ngược lại, tôi hết sức lạc quan! Tương lai lớp trẻ sẽ tươi sáng vì có nhiều thông tin để chọn lọc và xử lý. Thực ra nền giáo dục hiện nay chỉ cần thay đổi một tý phương pháp là từ “Dạy theo kiểu cung cấp thông tin sang Hướng dẫn người học xử lý thông tin” là mọi chuyện sẽ hiệu quả ngay. Người Việt rất nhanh trong việc chuyển biến theo thời cuộc. Nền giáo dục hiện nay đúng là còn co giật, động kinh nhưng đó là đang lột xác. Lột xác thì đau đớn nhưng để trưởng thành. Lớp trẻ tới đây sẽ có những bài học lành mạnh và tốt đẹp như ý thức hơn về môi trường, văn hóa… Họ sẽ thụ hưởng và cũng biết được rằng để có được điều đó cha ông đã phải trải qua bao khó khăn, thậm chí trả giá bằng xương máu như thế nào! Vì người Việt Nam hiếu học, sẵn sàng đầu tư cho giáo dục nên tôi tin rằng nền giáo dục cũng như con người Việt Nam sẽ nhanh chóng khắc phục để vươn lên tầm cao trong thời gian ngắn…

– Nhiều năm đứng trên giảng đường, ông đánh giá thế nào về sinh viên Việt Nam thời gian qua?

+ Tôi thấy đa số rất dễ thương. Nhưng nhìn tổng thể thì sinh viên ra trường lý thuyết suông quá nhiều nên chưa làm được việc ngay. Theo tôi, ở đây trách nhiệm người thầy chiếm khoảng 40%. Về người thầy thì phương Tây hay phương Đông đều cho người thầy là đáng tin cậy vì trước hết thầy có sự liêm khiết về mặt trí thức, tâm hồn và can đảm trong mọi lời nói, hành động. Thế nhưng với mô hình giáo dục lỗi thời thì thậm chí thầy nói sai khá nhiều…

– Vậy 60% còn lại là của sinh viên?

+ Gần như thế! Cứ đến ký túc xá của ta mà xem, rất nhiều sinh viên có hai việc để tập trung là đi làm và đi chơi. Con nhà giàu đi chơi, con nhà nghèo đi làm. Vì vậy họ học để đối phó theo kiều gần tới ngày thi mới thắp đèn, uống càfê để “nuốt” giáo trình trong vòng hai, ba ngày theo phương pháp học thuộc lòng. Như thế làm sao “tiêu hóa” cho nổi? Ra trường chỉ có cái bằng thôi còn đầu thì trống trơn. Nhưng như thế là còn “lương thiện” vì thực tế còn nhiều sinh viên nhờ người khác thi giùm đấy! Thậm chí con nhà phú ông ở quê lên còn thuê cả người làm giặt giũ, chép bài giùm nữa… Nghĩa là bao nhiêu tiền cha mẹ, nhà trường, đất nước trôi sông hết.

– Theo ông nguyên nhân sâu xa là gì khi học đốt cháy giai đoạn như thế mà vẫn “đậu ào ào”?

+ Tôi nghĩ do văn hóa người Việt. Tri thức, văn hóa người Việt Nam không thấp nhưng tập trung lại ở bốn chữ “Dĩ hòa vi quý”. Nó bộc lộ hết những tích cực và hạn chế trong đó. Người ta ngại không giám nói thẳng thật vì lấy “hòa” làm chính. Điều đó làm hạn chế sự độc lập, sáng tạo. “Tôi không dám làm mất lòng anh vì lỡ ngày mai con gái tôi đám cưới thì làm sao nhờ anh giúp được”. Nó xuất phát từ văn hóa làng xã và tôi dám nói thẳng ra rằng cả nước Việt Nam là “một làng lớn”.

– Người trong một nước đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau, tạo nên sức mạnh, bản sắc của người Việt như vậy là tốt chứ thưa ông?

+ Đúng! nhưng sẽ hạn chế văn hóa tranh luận, cái quan trọng để làm động lực cho sự sáng tạo, phát triển! Chúng ta thiếu văn hóa tranh luận. Hầu hết các cuộc hội thảo ở ta tòan nói vuốt đuôi nhau theo kiểu: “Vấn đề anh phát biểu chúng tôi cơ bản nhất trí!…”. Nếu có bất đồng quan điểm thì đâm ra cãi nhau vì ghét nhau, ghen tỵ nhau chứ không phải tranh luận. Tranh luận của ta chủ yếu quan tâm tới bản thân mình, nói thì sợ đụng chạm, sợ nói điều trái ngưọc…

– Thế tranh luận phải như thế nào?

+ Thường văn hóa tranh luận có câu: “Tôi tôn trọng ý kiến của anh nhưng theo tôi vấn đề này cần được hiểu khác…”. Rõ ràng anh là hoa hồng phát triển thành hoa hồng, tôi là hoa lan thì phát triển thành hoa lan nhưng hai hoa phải tôn trọng nhau chứ! Như vậy thì thế giới mới muôn màu muôn vẻ chứ không lẻ bắt thế giới cứ tòan hoa hồng? Vì vậy, mọi sự tranh luận cần phải được tôn trọng. Thí dụ, tranh luận về chống ngập của TP.HCM thì chỉ tập trung vấn đề đó chứ không thể tập trung điểm xấu tốt khác để “bêu” nhau. Anh nói gì thì nói nhưng cuối cùng phải cho tôi thấy giải pháp của anh hữu ích hơn tôi là được. Chúng ta nên nghĩ tới điều khác (chống được ngập) cao hơn cả hai người chúng ta chứ không thể đem hiềm khích cá nhân vào tranh luận được. Do đó, văn hóa tranh luận là rất quan trọng, cần phải được nhân rộng tới đây.

– Có thể nhiều người ngại tranh luận với ông vì ông quá “rắn”?

+ Tôi chỉ có chút “gai góc” thôi! Sở dĩ tôi vẫn giữ được “sự gai góc” vì nhờ ngày nhỏ học dốt nên thoát được sự “tròn trịa” trong giáo dục. Ở góc độ nào đó, ngày xưa tôi cũng được tự do chọn đường đi của mình nhờ bố mẹ tôi không có điều kiện học cao nên không can thiệp vào công việc học của con…

– Thế bây giờ ông học cao thì dạy con của mình thế nào?

+ Tôi tôn trọng sở thích học của con mình, kể cả cách chọn trường. Con đầu của tôi đã là dược sĩ và rất thích nói chuyện với tôi như hai người bạn. Con tôi vẫn khuyên tôi nhiều hơn như ba cần phải tập thể dục, bỏ hút thuốc, bớt rượu bia…

– Tám năm học ở Mỹ, ông thấy giáo dục của họ có gì tối ưu?

+ Tôi sẽ nói riêng về điều này vì hiện nay nhiều người hiểu sai về giáo dục Mỹ! (Xin xem bài sau)

– Xin cám ơn ông!

Bài 2:

Việc tuyển sinh, đào tạo ở Mỹ có gì khác mà họ có nhiều trường đại học hàng đầu thế giới nhất? Chúng tôi đã ghi lại lời của ông Dương Ngọc Dũng, ngưởì tốt nghiệp thạc sĩ Đại học Harvard, tiến sĩ Đại học Botton:

Cách đào tạo của Mỹ “thực dụng” hơn!

Từ nhỏ, học sinh ở Mỹ bắt buộc học hết trung, miễn học phí, gọi là giáo dục cưỡng bách. Tốt nghiệp trung học thì không phải thi. Sau đó, học sinh làm hồ xin vào các trường đại học. Tiêu chuẩn xét tuyển vào đại học phải hội đủ các điều kiện sau:

Thứ nhất: Học bạ vẫn quyết định. Càng nhiều môn xếp loại A càng tốt. Họ không đánh giá người học bằng một cuộc thi mà đánh giá bằng cả quá trình. Học bạ từ lớp sáu đến lớp 12 được xem kỹ để biết được người học có sở trường môn gì. Nếu học sinh xin vào học khoa học tự nhiên nhưng môn toán chỉ đứng loại B là không được. 70% môn học trong học bạ giỏi mới được vào trường “ngon”.

Thứ hai: Ba giấy giới thiệu của ba giáo viên trung học về các phẩm chất của người học cho trường đại học. Họ tôn trọng sự giới thiệu này như lời một nhân chứng. Việc giới thiệu này quy định rất nghiêm, không thể giới thiệu cho qua chuyện được. Học sinh không có quyền biết việc giới thiệu này.

Thứ ba: Công tác xã hội. Mục đích là họ đánh giá trong suốt quá trình học trung học, học sinh nào đó có tích cực tham gia công tác xã hội không? Anh có phải là công dân tốt của Mỹ không? Ví dụ như cuối tuần đi giúp trẻ em khiếm thị, tham gia dọn cây xanh ngoài đường miễn phí, mùa đông tình nguyện vào đội xúc tuyết, lúc thiên tai địch họa anh có tích cực giúp mọi người không hay lúc giáng sinh có di xin tiền người giàu cho trẻ em nghèo không… Đặc biệt công tác xã hội của học sinh trình lên phải có thị trưởng thành phố ký xác nhận.

Thứ tư: Trong thời gian học có tham gia tích cực thể thao không? Người Mỹ họ muốn giáo dục cho mọi người phát triển toàn diện chứ không lệch về môn nào cả. Họ đào tạo con người không chỉ để biết chữ không, không chỉ anh có đầu tốt mà phải có cơ thể khỏe mạnh, chơi thể thao, phát triển toàn diện để sau còn làm việc và thích ứng với xã hội…

Cuối cùng là anh phải có điểm cao trong hệ thống thi tuyển SAT (tức trắc nghiệm năng khiếu đặc biệt). Điểm này trắc nghiệm trí thông minh tổng quát chứ không phải môn thi cụ thể như nhiều người ở ta hiểu lầm là “họ cũng thi SAT đấy thôi”. Vì họ cho rằng học đại học thì phải có trí thông minh tối thiểu.

Nếu ai đó được trường chọn có giấy báo “chúc mừng” thì coi như sung sướng hết sức. Ở Mỹ không gì sung sướng bằng bắt đầu thời kỳ sinh viên. Cơ chế của họ làm cho người ta chăm học vì học là tốn tiền. Mỗi năm học phí trên 20.000 USD. Rất ít người được học bổng nên đa số phải vay ngân hàng để học. Vì vậy họ rất quý thời gian học. Sinh viên ở đâu cũng muốn kiếm việc làm nhưng của Mỹ phải cạnh tranh nên kiến thức để xin việc đối với họ quan trọng chứ không phải như mình nếu có yếu một tý thì gửi gắm…

Chương trình của họ cũng có hai phần như Việt Nam, đó là hai năm học đại cương với các môn như triết học, xã hội nhân văn nói chung…Hai năm sau là chuyên sâu nhưng theo tư vấn của giáo viên. Phương pháp dạy đại học cũng đứng lớp, giảng bài và có giáo trình như ở ta. Nhưng trường của họ giàu nên giảng viên nghiêm túc hơn mình ở chỗ không phải “chạy sô”. Giáo sư chỉ làm một chỗ, giảng chỉ khoảng hơn một tiếng đồng hồ trong ngày. Khi giảng xong, giáo sư về phòng của mình làm việc, nghiên cứu, còn lại giao cho ba trợ giảng điều khiển từng nhóm học trong lớp. Giáo sư ngồi ở phòng riêng của mình đến hết giờ hành chính và bất cứ sinh viên nào cũng có thể gõ cửa vào hỏi những điều mình thắc mắc.

Về người học tiến sĩ thì có hai loại: “Khùng” hoặc con nhà giàu học chơi cho vui. Nếu để xin việc làm thì cử nhân đủ rồi, còn tiến sĩ sẽ “bị chê” là bằng cấp vượt quá mức cần thiết. Nhiều tiến sĩ ở Mỹ đi chiên bánh mì, lái xe taxi… vì không xin được việc làm. Chính tôi sau khi tốt nghiệp thạc sĩ cũng phải đi lái taxi kiếm tiền để làm luận văn tiến sĩ. Học chơi hoặc là “khùng” đề phải đam mê.

Về phương pháp giáo dục đại học của Mỹ có chút hơn của ta, nghĩa là không nhiều. Tuy nhiên, cái khác biệt là ở các “tiểu tiết” như sinh viên được quyền bỏ phiếu hay ý kiến đánh giá giáo sư, giáo sư ngồi sẵn một chỗ chờ sinh viên đến hỏi… Nhưng chính nhiều cái tiểu tiết tạo nên sự khác biệt.

Về chương trình giáo dục khung thì do Bộ Giáo dục đặt nhưng chương trình cụ thể do trường quy định. Để đạt được kiến thức do trường quy định thì người thầy được tự do lựa chọn phương pháp, miễn làm sao đạt chuẩn kiến thức đó. Khác biệt nữa là có nhiều giáo sư cùng dạy một môn để cho sinh viên lựa chọn. Trong trường hầu như môn gì cũng có mà họ tin tưởng giáo sư lắm vì họ cho rằng sản phẩm của mình rất tin tưởng. Ngay trong hợp đồng giảng dạy họ cũng nêu giáo sư phải tự thiết kế chương trình dạy cho mình làm sao hiệu quả là được. Họ bài bản ngay từ đầu nên họ tin kiến thức của người thầy được tuyển mộ. Người tổ chức tuyển giáo viên (ông chủ) chỉ là người trả lương, còn chuyên môn thì họ chắc chắn thừa nhận ông thầy mình tuyển giỏi hơn mình…

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s