THĂM LỤC TỈNH TÂY NAM BỘ BẰNG CA DAO

THĂM LỤC TỈNH TÂY NAM BỘ BẰNG CA DAO
05:24 31 thg 12 2011Công khai1 Lượt xem 0

Phần 1 – MỸ THO

Chàng vốn dòng ăn học, hào hoa, sống chốn thị thành Sài Gòn Gia Định, với dòng máu phiêu bạt giang hồ:

Chim buồn tình, chim bay về núi

Cá buồn tình, cá lủi xuống sông

Anh buồn tình, anh dạo chốn non bồng

Dạo miền sơn nước, xuống chốn ruộng đồng mới gặp em.

Đó là típ người được các cô gái Miệt Vườn Lục Tỉnh ngưởng mộ và thầm mong được kết duyên:

Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ

Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ, ngọn lu

Anh về học lấy chữ nhu (chữ nhu = chữ nho)

Chín trăng em cũng đợi, mười thu em cũng chờ

Đất Sài Gòn nam thanh, nữ tú

Cột cờ Thủ Ngữ cao rất là cao

Vì thương anh, em vàng võ má đào

Em đã tìm khắp chốn, nhưng nào thấy anh?

Chàng thuộc loại đa tình, đầu môi chót lưởi:

Sông Cửu Long chín cửa, hai dòng,

Người thương anh vô số, nhưng chỉ một lòng với em

.

Và chàng tán tỉnh nàng:

Nội trong lục tỉnh Nam Kỳ (1)

Thấy em ăn nói nhu mì anh thương

Có mặt tui mình nói mình thương

Tui về chốn cũ mình vấn vương nơi nào?

Hay:

Đồng Nai, Châu Đốc, Định Tường

Lòng anh sở mộ con gái vườn mà thôi

Nước chảy liu riu

Lục bình trôi líu ríu

Anh thấy em nhỏ xíu anh thương!

Tàu Nam Vang chạy ngang cồn cát,

Xuồng câu tôm đậu sát mé nga,

Thấy em cha yếu mẹ già

Muốn vô phụng dưỡng biết là đặng không?

Rồi chàng thề thốt:

Biển cạn, sông cạn, lòng qua không cạn

Núi lở non mòn, ngỡi bạn không quên

Dầu nói vậy, đã từ lâu chàng chưa về thăm người tình:

Cần Thơ là tỉnh

Cao Lảnh là quê

Anh đi lục tỉnh bốn bề,

Mải lo buôn bán không về thăm em

Vì vậy chàng chỉ hỏi thăm nàng qua thư từ:

Cách một khúc sông kêu rằng cách thủy

Sài Gòn xa, chợ Mỹ không xa

Gởi thơ thăm hết mọi nhà

Trước thăm phụ mẫu sau là thăm em

Và nhắn nhủ với nàng:

Cúc mọc bờ sông kêu là cúc thủy,

Chợ Sài Gòn xa, chợ Mỹ cũng xa.

Chồng gần không lấy, em lấy chồng xa.

Mai sau cha yếu mẹ già

Chén cơm đôi đũa, bộ kỷ trà ai dâng

Tuy vậy, chàng hứa hẹn đẩy đưa, sẽ có một ngày về Lục Tỉnh thăm nàng:

Chẻ tre bện sáo cho dày

Ngăn ngang sông Mỹ, có ngày gặp em

Còn nàng thì ngày ngày ra bến sông, ngóng đợi người tình:

Ghe ai đỏ mủi xanh lường

Phải ghe Gia Định xuống vườn thăm em?

Trước những lời thôi thúc của nàng, cuối cùng chàng quyết định về Lục Tỉnh thăm nàng. Ngày xưa, đường bộ đi Lục Tỉnh rất khó khăn, không có cầu bắt qua sông rạch, lại lắm truông nguy hiểm:

Ai về Giồng Dứa qua truông (Giồng Dứa thuộc Tiền Giang)

Gió đưa bông sậy, dạ buồn nhớ ai

Kễ từ tháng 5 năm 1886, có thể đi Lục Tỉnh bằng xe lửa Sài Gòn – Mỹ Tho tại nhà ga xe lửa ở trước chợ Bến Thành:

Mười giờ xe lửa nhỏ bỏ chợ Bến Thành,

Xúp lê kia dạo thổi, bộ hành xôn xao.

Tuy nhiên, phương tiện thông thường và lý thú nhất vẫn là ghe thuyền trên hệ thống sông rạch Đồng Nai nối liền với Sông Tiền, sông Hậu. Chàng bắt đầu khởi hành bằng ghe ở Sông Sài Gòn:

Sông Sài Gòn chạy dài Chợ Củ

Nước mênh mông nước lũ phù sa

Nhà Bè nước chảy chia hai

Ai về Gia Định Đồng Nai thì về

Thất Sơn ai đắp mà cao

Sông Tiền, sông Hậu ai đào mà sâu

Suốt cuộc hành trinh, đâu đâu cũng:

Sông Tiền sông Hậu cùng nguồn

Thuyền bè tấp nập bán buôn dập dìu.

Không có gì lý thú bằng đi ghe thuyền trên sóng nước:

Gió lên rồi căng buồm cho sướng

Gác chèo lên ta nướng khô khoai

Nhậu cho tiêu hết mấy chai

Bỏ ghe nghiêng ngửa không ai chống chèo.

và:

Đường rừng có bốn cái vui

Lúc chống, lúc lạo, lúc bơi, lúc chèo

Ngoài ra, trên dòng sông thơ mộng, chàng còn có thể tán tỉnh bao cô gái miệt vườn:

Bớ chiếc ghe sau chèo mau anh đợi

Kẻo khúc sông này bờ bụi tối tăm.

Cô gái miệt vườn cũng đẩy đưa:

Ghe anh mỏng ván, bóng láng nhẹ chèo

Xin anh bớt mái, nương lèo đợi em

Cơ hội tán tỉnh đã đến:

Gíó thổi lao xao khúc sông nào sóng nấy

Thuyền em đi giữa dòng anh thấy anh thương

Khúc sông chật hẹp khôn tuỳ

Lo cho thân bậu sá gì thân qua

Gặp nhiều cô gái miệt vườn xinh đẹp, chàng thoáng có ý nghĩ:

Sông Tiền cá lội huyên thiên

Lòng anh muốn bắt con cá lội riêng một mình

Cầm tay em như ăn bì nem gỏi cuốn

Dựa lưng em như uống chén rượu ngon

Thà rằng chẳng biết cho đừng

Biết ra dan díu nửa chừng lại thôi

Con sông bên lở bên bồi

Một con cá lội mấy người buông câu

Và chàng thả hồn mơ mộng đến cô gái Tiền Giang:

Gió lao xao thổi vào mái lá

Như ru tình cô gái Tiền Giang

Thời gian thơ mộng lửng lờ trôi như dòng nước chảy, ghe chàng đến vùng Bến Lức:

Thủ Thiêm, Thủ Đức, Bến Lức, Thủ Đoàn (1),

Anh phải lòng nàng tại Thủ Chiến Sai (2)

Nơi Bến Lức có sông Vàm Cỏ nước xanh trong vắt, chàng chạnh lòng:

Sông Vàm Cỏ nước trong thấy đáy

Dòng Cửu Long xuôi chảy dịu dàng

Ai về Mỹ Thuận Tiền Giang

Có thương nhớ gã đánh đàn năm xưa.

Mặc dầu đầy thơ mộng, sông Vàm Cỏ rất nguy hiểm cho ghe thuyền ở đoạn Vàm Bao Ngược

Thứ nhất Vàm Nao, thứ nhì Bao Ngược. (3)

Một là sang ngang Bao Ngược,

Hai là vượt sông Vàm Tuần(4)

Anh đi ghe lúa Gò Công,

Trở về Bao Ngược bị dông đứt buồm.

Đứt buồm nước chảy có cuồn,

Anh đi qua đó dựng buồm chạy luôn.

Sông Tra (5) thả ra Bao Ngược, sợ gặp sóng thần

Vịnh Xã Kiểng đến Vàm Tuần, sợ thần Hà Bá.

Bến Lức, Long An là quê hương của các giống lúa có gạo thơm ngon:

Đi đâu cũng nhớ quê mình

Nhớ cầu Bến Lức, nhớ chình gạo thơm

Gạo Cần Đước, nước Đồng Nai

Ai về xin nhớ cho ai theo cùng

Cám ơn hạt lúa nàng co

Nợ nần trả hết, lại no tấm lòng

Tôm rằn bóc vỏ bỏ đuôi

Gạo thơm Nàng Quốc em nuôi mẹ già

Bây giờ ghe chàng đã gần tới Mỹ Tho:

Rạch Gầm Xoài Mút tăm tăm

Xê xuống chút nữa tới vàm Mỹ tho…

“Mỹ Tho Đại Phố” là thành phố cổ nhất của miền Lục Tỉnh, được thành lập năm 1623 do Dương Ngạn Địch, một tướng Tàu tị nạn chạy trốn Mản Thanh và được chúa Nguyễn cho định cư ở Peam Mesar thuộc Thủy Chân Lạp. Mysar phát âm theo người Miên là M’Tho, và người Việt nói trại thành Mỹ Tho. Mỹ Tho tuy không lớn đẹp bằng Sài Gòn “Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ, Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ, ngọn lu”, nhưng cũng không thua kém lắm:

Đèn nào cao bằng đèn Chợ Mỹ

Lộ nào kỹ bằng lộ Cần Thơ

Anh thương em lững đững lờ đờ

Tỷ như Tôn Các ngồi chờ Bạch Viên.

Đúng vậy, chàng đã bị thôi miên bởi cô gái Mỹ Tho vừa đẹp vừa gan dạ:

Gái Mỹ Tho mày tằm mắt phượng

Giặc đến nhà chẳng vụng quơ đao

Cô gái Mỹ Tho cũng lắm đa tình:

Khi nào anh thấy nhớ ai

Xin về chợ Mỹ, đường dài dễ đi

Vườn xoài vườn ổi xum xê

Mặc tình anh “hái” anh đòi… em cho

Mỹ Tho còn nổi tiếng với cam sành, vú sửa và nấm rơm:

Vú sữa Sầm Giang căng dáng mộng

Nấm rơm Long Định ủ ngàn sương

Cam sành vú sửa Trung Lương,

Dừa xanh, dừa nước, quít đường Ba Tri

Đến Mỹ Tho mà không đến Gò Công là một điều thiếu sót. Gò Công chỉ cách Mỹ Tho 30 km, có bờ biển đẹp, là quê hương của hoàng thái hậu Từ Dủ (vợ vua Thiệu Trị, mẹ vua Tự Đức) và Nam Phương hoàng hậu (vợ vua Bảo Đại), cũng là quê hương của Võ Tánh và Trương Công Định:

Gò Công rạch Lá nhớ nhung

Quê xưa Võ Tánh, Trương công oai hùng

Lạc loài cách bến xa sông

Gió thu hiu hắt chạnh lòng cố hương.

Đến Gò Công, ai chẳng bùi ngùi nhớ lại trận bảo năm Thìn(ngày 16/3/1904), gây tổn thất nhiều cho Lục Tỉnh, từ vùng biển cho tới Cần Thơ, Long Xuyên, Châu Đốc. Riêng tại Gò Công hơn 5000 người chết:

Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc

Gió nào độc bằng gió Gò Công

Thổi ngọn đông phong lạc vợ xa chồng,

Đêm nằm nghĩ lại nước mắt hồng tuôn rơi.

Gió nào độc bằng gió Gò Công

Sông nào nông bằng sông Châu Đốc

Gò Công đẹp lắm, ai chẳng si tình:

Ước chi anh như đám dừa xanh cuối sông Vàm cỏ

Như rặng trâm bầu đón gió cửa Cửu Long

Để được sống bên em giữa muôn trùng sóng vỗ

Ơi người anh yêu, người con gái Gò Công

Gò Công là vùng biển giàu tôm cá, nên có nhiều món hải sản đặc thù, đặc biệt món “Mắm Tôm Chà Gò Công”:

Gò Công giáp biển, nổi tiếng mắm tôm chà

Mắm tôm chua ai ai cũng chắt lưỡi hít hà

Saigon, chợ Mỹ ai mà không hay

Chợ Gò Công có bán đủ thứ:

Chợ nào vui bằng chợ Gò (Công)

Tôm khô, cá trung, thịt bò, thịt heo

Thật nhiều bánh ướt, bánh xèo

Bánh khô bánh nổ bánh bèo liên lu.

Gò Công cảnh đẹp người xinh, thế mà có kẻ nói xấu Gò Công:

Có bún nào ngon hơn bún Chợ Gạo

Có đứa nào xạo bằng thằng Út Gò Công

Bỏ xứ Gò Công thẳng xông chợ Mỹ

Đến chốn Sài Gòn làm đĩ nuôi thân

Lòng chàng phân vân, xao xuyến, ngao ngán tình đời. Chàng tiếc nuối một mối tình dang dở ở vùng đất biển:

Phượng hoàng đậu nhánh vông nem

Phải dè năm ngoái cưới em cho rồi

Ngã tư Chợ Gạo nước hồi

Tui chồng mình vợ còn chờ đợi ai

Chàng từ giả Gò Công, Mỹ Tho, và tiếp tục cuộc hành trình về miền Lục Tỉnh.

PHẦN 2: BẾN TRE

by Ca Dao Tuc Ngu Viet Nam on Wednesday, September 8, 2010 at 10:42am

Tác giả:

.Anh quốc, 5/2009

.Nguyễn Thị Kim Thu

Trên đường trở lại Mỹ Tho, dọc bờ sông im lìm, nhìn hàng dừa uốn mình vươn ra dòng nước, chàng chợt nhớ Bến Tre:

Thấy dừa thì nhớ Bến Tre

Thấy bông mía trắng nhớ quê Mỏ Cày

Lòng chàng đau thắt, nhớ lại một mối tình mà chàng đã từng thề thốt:

Nước sông Cửu Long sóng dồn cuồn cuộn

Cửa Hàm Luông mây cuốn cánh buồm trôi

Bậu với qua hai mặt một lời

Trên có trời, dưới có đất

Ngãi trăm năm vương vất sợi tơ mành

Tử sanh, sanh tử chung tình

Dẫu ai ngăn đón, tôi với mình cứ thương

Chừng nào cho vạc xa cồn,

Cù lao xa biển anh mới đành xa em

Chừng nào cầu đá rã tan

Sông Hàm Luông lấp cạn mới quên lời thề

Nhưng vì đi làm ăn buôn bán ngược xuôi, chàng chưa về lại Bên Tre, chàng bị người yêu trách móc:

Đồng Bến Tre nhiều bưng, nhiều lác

Đường về Ba Vát nặng trĩu sầu riêng

Anh ra đi đã bốn năm liền

Sao không trở lại kết bạn hiền với em

Và ngay cả thư từ cũng không có:

Ghe lên ghe xuống dầm dề

Sao anh không gởi thơ về thăm em?

Từ giả đất Định Tường, chàng quyết định vượt sông để qua thăm Bến Tre. Ngày nay có Cầu Rạch Miểu mới xây xong (2008), nối Tiền Giang với Bến Tre. Ngày xưa chỉ với ghe thuyền mới đến được Bến Tre, vì đó là 3 cù lao lớn, Cù lao Bảo, Cù Lao Minh và Cù Lao An Hóa của sông Tiền.

Ai từng sang Bảo, về Minh

Ghé qua Bình Khánh em xin đãi chè

Quê em hai dải cù lao

Có dừa ăn trái, có cau ăn trầu

Quê anh có cửa biển sâu

Có ruộng lấy muối, có dâu nuôi tằm

Trên bước giang hồ, khi nghe đến hai chữ cù lao Bến Tre, chàng bỗng sực chợt nhớ cha mẹ già:

Bến Tre hai chữ cù lao,

Chữ nào tình mẹ, chữ nào nghĩa cha

Có người cho rằng tên Bến Tre xuất phát từ chữ Srock Tréy của người Miên. “Tréy” có nghĩa là cá (tréy tuksat = cá nước ngọt hay cá sông, và tréy sramot = cá biển). Có lẻ trên sông rạch có nhiều bến chợ cá, người Việt biến Sóc Tréy thành Bến Tréy rồi Bến Tre cho thuận miệng. Cũng có người cho là ngày xưa nơi này có nhiều bến bán tre, vì nơi đây là giồng cát duyên hải cao có tre mọc như rừng, vì vậy mới có câu ca dao “Chẻ trenơi giáp 3 ngã sông rạch (sông Thom, rạch Cầu Ông Bồng, và rạch Mỏ Cày)tạo nên một doi đất hình mỏm (lưởi) cày, lâu ngày nói trại là Mỏ Cày. bện sáo cho dày, ngăn ngang sông Mỹ có ngày gặp nhau”. Cũng vì nguyên do đó, Bến Tre có một thời mang tên thơ mộng Trúc Giang (Sông tre). Còn tại sao cũng ở Bến Tre có huyện mang tên chất phát Mỏ Cày? Thật ra là “Mỏm Cày”, Bến Tre là thành phố nằm trên đất giồng cát duyên hải cổ, không bị ngập lụt, nên đường thành phố:

Sông Bến Tre nhiều hang cá ngát

Đường kho bạc lắm cát dễ đi

Và xóm làng tiêu biểu với cây da, cây thị, cây dừa của miền Nam :

Đầu làng có một cây da

Cuối làng cây thị ngã ba cây dừa

Dù anh đi sớm về trưa

Xin anh nghỉ bóng cây dừa nhà em

Thật vậy, Bến Tre là xứ của dừa, của cây trái, có nhiều sông rạch nên mát mẻ quanh năm:

Hò ơi ! Bến Tre dừa xanh bát ngát,

Đường đi Ba Vát gió mát tận xương

Em về Chợ Giữa, Giồng Trôm,

Đừng quên Chợ Lách, Cái Mơn đợi chờ

Bến Tre nước ngọt lắm dừa,

Ruộng vườn mầu mỡ, biển thừa cá tôm.

Hòa Quý với tổng Hòa Thinh

Dừa khô thổ sản nổi danh Nam Kỳ.

Là vùng cù lao ven biển, chằn chịt sông rạch nên có rất nhiều cầu:

Cầu nào cao bằng cầu Cái Cối (Cầu Cái Cối bắc ngang sông xã Thạnh Mỹ An).

Gái nào giỏi bằng gái Bến Tre

hay:

Cầu nào cao bằng cầu Cái Cối

Gái nào giỏi bằng gái Giồng Trôm…

Dòng sông Tiền uốn khúc quanh co, mang nhiều phù sa màu mở:

Sông Ba Lai bên bồi, bên hẳm

Đất Ba Lai đỏ thẫm phù sa

Ra đến biển các cửa sông là rừng ngập mặn với cây mắm, cây bần, giúp bồi tụ phù sa và là nơi tôm cá sinh sống:

Mắm, bần ven đất phù sa

Bà Hiền, Tân Thủy hằng hà cá tôm

Sinh thái rừng ngập mặn Bến Tre cũng được mô tả:

Mắm trước, đước sau, tràm theo sát

Sau hàng dừa nước, mái nhà ai.

Vì vậy, Bến Tre rất phong phú và đa dạng tài nguyên từ ruộng lúa, mía, thuốc lá, dừa, trái cây đủ loại, thủy sản nước ngọt, hải sản và muối:

Bến Tre nước ngọt lắm dừa

Ruộng vườn màu mỡ, biển thừa cá tôm

Bến Tre giàu mía Mỏ Cày

Giàu nghêu Thạnh Phú, giàu xoài Cái Mơn

Bình Đại biển cá, sông tôm

Ba Tri ruộng muối, Giồng Trôm lúa vàng.

Xẻo Sâu cau tốt ai bì

Lúa vàng Thạnh Phú, khoai mì Thạnh Phong

Xoài chua, cam ngọt Ba Lai,

Bắp thì Chợ Giữa, giồng khoai Mỹ Hòa,

Quýt đường, vú sữa, ngổn ngang,

Dừa xanh Số Sãi, tơ vàng Ba Tri

Sầu riêng, măng cụt Cái Mơn,

Nghêu sò Cồn Lợi, thuốc ngon Mỏ Cày

Mắm bày ven bãi Giồng Khoai,

Bà Hiền, Tân Thủy hằng hà cá tôm.

Bánh giá chợ Giồng (Giồng Trôm)

Mắm còng Phú Thạnh

Muối khô ở Gảnh mặn nồng

Giồng Trôm, Phong Nẫm dưa đồng giăng giăng.

Bến Tre biển cá sông tôm,

Ba Tri muối mặn, Giồng Trôm lúa vàng

Bến Tre biển rộng sông dài

Ao trong nuôi cá, bãi ngoài thả nghêu

Tôm càng xanh nước quơ râu

Rừng vàng biển bạc còn đâu phải tìm.

Ba phen quạ nói với diều,

Ngã ba Bến Rớ có nhiều cá tôm.

Ngoài ra, Mỏ Cày còn nỗi tiếng về kẹo:

Kẹo Mỏ Cày năm đồng một ký,

Đường Giồng Trôm một ký năm đồng.

Em đi buôn mong kiếm tấm chồng,

Để đêm năm canh, con gà gáy sáng,

Chốn cô phòng đỡ lẻ loi.

Kẹo Mỏ Cày vừa thanh, vừa béo

Gái Mỏ Cày vừa khéo, vừa ngoan…

Bến Tre dừa ngọt sông dàiNơi chợ

Mỏ Cày có kẹo nổi danh

Kẹo Mỏ Cày vừa thơm vừa béo

Gái Mỏ Cày vừa khéo vừa ngoa

nAnh đây muốn hỏi thiệt nàng

Là trai Thạnh Phú cưới nàng được chăng?

Còn bánh tráng, bánh phồng thì phải đến chợ Mỹ Lồng:

Bánh tráng Mỹ Lồng bánh phồng Sơn Đốc

Măng cụt Hàm Luông

Vỏ ngoài nâu trong trắng như bông gòn

Anh đây nói thiệt sao em còn so đo

Em tráng bánh tráng, anh quết bánh phồng,

Cảm thông đôi má ửng hồng.

Hẹn em chợ Mỹ Lồng ăn cháo về đêm.

Còn muốn ăn bánh giá thì phải đến chợ Giồng Trôm:

Từ khi em gái lấy chồng,

Anh ăn bánh giá chợ Giồng với ai?

Đất Bến Tre nổi tiếng với Cụ Đồ Chiểu (Nguyễn Đình Chiểu) (1822-1888), Sương Nguyệt Ánh (1864-1921) của vùng đất Ba Tri, và anh hùng chống Pháp lảnh binh Nguyễn Ngọc Thăng (1822-1888) của Giồng Trôm. Nói đến Ba Tri, không ai không biết thành ngữ “Ông Già Ba Tri”, vốn ca ngợi tinh thần cương trực, tôn trọng sự thật, dám đấu tranh cho lẽ phải. Ông tên Thái Hữu Kiểm hay Cả Kiểm, sống vào đầu thời Minh Mạng. Ông nổi tiếng với chuyện cùng hai ông già khác, đi bộ hơn hai ngàn cây số đi và về, từ Ba Tri đến Huế để nộp đơn “khiếu kiện” lên vua Minh Mạng, đòi lại công bằng cho người dân ở Ba Tri vốn bị cường hào và quan lại địa phương cấu kết. Ông thắng kiện, dành quyền lợi lại cho dân Ba Tri.

Đất Bến Tre nổi tiếng với gái đẹp làm lòng chàng xao xuyến:

Con gái Bến Tre tóc mây da trắng,

Mắt nhung đen má phấn môi son,

Dáng đi yểu điệu ru hồn,

Em đi khuất dạng mà anh còn trồng cây si

Bến Tre gái đẹp thật thà,

Nói năng nhỏ nhẹ mặn mà có duyên.

Trai nào gan cho bằng trai Cao lãnh

Gái nào bảnh cho bằng gái Bến Tre

Giồng Trôm có gái nhu mì

Qua thương nhớ Bậu, sá gì đường xa

Bến Tre gái đẹp thật thà,

Nói năng nhỏ nhẹ mặn mà có duyên.

Bến Tre trai lịch, gái thanh

Nói năng duyên dáng, ai nhìn cũng ưa

Gái Bến Tre vừa đẹp vừa đảm đang:

Sông Cửa Đại hai chiều nước chảy,

Gái Bình Đại chẳng ngại gian nan

Quý thay những tấm lòng vàng

Làm ăn chất phác, đảm đang mọi điều.

Ai về Chợ Giữa, Xóm Dưa,

Ruộng nương giúp mẹ, nắng mưa chẳng màng.

Ai về Thạnh Phú, Tân Hương ,

Để mong để nhớ, để thương trong lòng.

Trai thiếu gái thừa cũng là vấn đề của Bến Tre:

Bến Tre nhiều gái chưa chồng,

Không tin xuống chợ Mỹ Lồng mà coi.

Và chàng đã tán tỉnh nàng với hứa hẹn:

Chợ Ba Tri thiếu chi cá biển

Anh thương nàng anh nguyện về đây!

Cây trên rừng hoá kiểng

Cá dưới biển hoá long

Con cá lòng tong ẩn bóng ăn rong

Anh đi lục tỉnh giáp vòng

Ðến đây trời khiến đem lòng thương em

Con cá lòng tong ăn móng,

Con cá bóng cát ăn rong

Anh đi Lục Tỉnh giáp vòng

Về đây Cầu Móng đem lòng thương em

Trước lời đường mật của chàng, nàng không nhẹ dạ và đề cao cảnh giác:

Sông Bến Tre có nhiều hang cá ngác

Đường lên Ba Vát gió mát tận xương

Anh có thương em thì nối sợi chỉ hường

Chớ bán rao cho lắm, hãy chừa đường . . .em đi.

Một thuyền một lái chẳng xong

Một chĩnh hai gáo còn nong tay vào

Em xót thương anh phất ngọn cờ đào

Còn thò tay bẻ mận em dạ nào dám ưng

Trước thái độ khôn ngoan, đứng đắng của nàng, chàng kính trọng nàng. Phải có thời gian cho nàng tìm hiểu. Chàng từ giả Bến Tre, ghe chàng ngược dòng sông Tiền, hướng về miền Đồng Tháp.

Thấy dừa thì nhớ Bến Tre

Thấy bông sen nhớ đồng quê Tháp Mười

Phần 3: ĐỒNG THÁP

(Tháp Mười – Cao Lảnh – Châu Thành – Sa Đéc – Nha Mân)

Cô gái bán hoa trên sông Sa Đéc

Theo dòng nước ngược khi thủy triều lên, ghe chàng bềnh bồng trên sông nước Tiền Giang thơ mộng, rồi ghe chàng rẻ vào các kinh rạch để hướng về miệt Đồng Tháp Mười. Hai bên rạch toàn cây xanh với hoa ô môi đỏ rực, thỉnh thoảng chen với hoa vàng của cây tra, xa xa bên trong thấp thoáng cây mù u cao vút làm phong cảnh thêm nên thơ. Trên dòng rạch nước trong xanh biếc dập diều các cô thôn nử yêu kiều chèo ghe xuôi ngược. Vốn lảng mạn, chàng cất tiếng hò dọ dẩm:

Cá về chợ Vĩnh hết mong
Em về Ðồng Tháp bỏ chồng cho ai ?

Rồi tiếp theo:

Cô kia chèo lái một mình
Cho anh chèo với cho mình có đôi

Cô thôn nử e lệ che mặt trong chiếc nón lá, vừa chèo vừa hò đáp:

Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi

Buôn bán không lời, chèo chống mỏi mê

và tự giới thiệu để chàng biết hoàn cảnh của mình:

Nước rong nước chảy tràn đồng

Tơ duyên sẵn có, chỉ hồng chưa se

Biết nàng đã có chỗ và sắp lập gia đình, chàng xoay câu chuyện để hỏi thăm về đời sống ở nơi đây ra sao, vì đây là lần đầu tiên chàng đến vùng Đồng Tháp Mười.. Nàng chân thật trả lời qua câu hò:

Tháp Mười sinh nghiệp phèn chua

Hổ mây, cá sấu thi đua vẫy vùng (hổ mây là tên một loài rắn)

Tháp Mười nước mặn, đồng chua

Nửa mùa nắng cháy nửa mùa nước dâng

Vì vậy người phụ nử ở đây lắm cơ cực, mùa màng luôn luôn thất bát vì phèn nổi và nắng hạn:

Cực lòng thiếp lắm chàng ôi
Kiếm nơi khuyết tịch thiếp ngồi thiếp than
Than vì cây lúa lá vàng
Nước đâu mà tưới nó hoàn như xưa
Trông trời chẳng thấy trời mưa
Lan khô huệ héo, thảm chưa hởi trời

Vì làm ăn lam lủ như vậy, làm sao con gái Đồng Tháp Mười có được làn da trắng đẹp của cô gái Miệt Vườn:

Trắng da vì bởi má cưng
Đen da vì bởi lội bưng, tát bàu.

Còn đàn ông vùng Đồng Tháp cũng nhọc nhằn không kém:

Chiều chiều ông Lữ đi cày

Trâu tha gãy ách khoanh tay ngồi bờ.

ngay cả công việc nhẹ nhàng như đi câu cá cũng lắm hiểm nguy:

Chiều chiều ông Ngữ thả câu

Sấu lôi ông Ngữ cắm đầu xuống sông

Chiều chiều ông Lữ đi câu

Sấu cắn ông Lữ biết đâu mà tìm

Chiều chiều ông Lữ đi câu

Bỏ ve, bỏ chén, bỏ bầu ai mang (ông Lữ hay Ngữ là tên chung chỉ người Đồng Tháp)

Nàng cho chàng biết về 4 cái cực nhất ờ Đồng Tháp Mười là bùn, đỉa, nắng và muổi mòng: “Trên trời muổi vo như sáo thổi, dưới nước đỉa lội như bánh canh”. Thử tưởng tượng lội trong đám sình lầy toàn phèn, dưới cái ánh nắng chói chan, không có một bóng cây, không thấy một mái nhà, cả cánh đồng toàn cỏ và lác, mà dưới đó toàn rắn rít và đỉa chen chúc.

Nàng cho biết thêm tuy hoàn cảnh thiên nhiên khắt nghiệt trong công việc đồng áng như vậy, Đồng Tháp Mười là nơi rất phong phú cá tôm, và lúa trời mọc hoang chỉ cần đưa ghe xuồng vào thu lượm. “Lúa trời” hay “lúa ma” là giống lúa hoang dại, hạt sống hưu miên trong đất sình lầy, chờ khi có mưa mới nẩy mầm, cây lúa lớn dần theo con nước lủ dâng cao, rồi ra bông, kết hạt và chín khi nước lủ rút xuống, hạt rụng vào bùn rồi ngủ cho tới mùa mưa năm sau. Vào mùa lúa trời chín, chỉ cần đưa xuồng vào cánh đồng, dùng sào quơ lúa vào xuồng, rung hay đập nhẹ ít cái là hạt lúa rơi vào lòng xuồng. Mỗi mùa người dân chỉ thu được vài ba giạ lúa. Hạt lúa rất ngon, rất thơm, nên chỉ dùng khi cúng giổ hay thết đải khách, hay làm quà đặc sản khi ra thăm bà con ở Miệt Vườn.

Ai ơi về miệt Tháp Mười

Cá tôm sẵn bắt, lúa trời sẵn ăn

Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh
Nước Tháp Mười lóng lánh cá tôm

Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng,
Về sông ăn cá, về giồng ăn dưa.

Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng,
Về bưng ăn cá, về đồng ăn cua.
Bắt cua làm mắm cho chua
Gửi về quê nội khỏi mua tốn tiền!

Rồi nàng mô tả cho người khách lạ mới quen những món ăn đặc sản của vùng Đồng Tháp như món “mắm kho” và món “cá kho”:

Muốn ăn bông súng mắm kho
Thì vô Đồng Tháp ăn no đã thèm.

Muốn ăn bông súng cá kho

Thì vô Đồng Tháp ăn cho đã thèm0

Món “cá trê nướng chấm mắm gừng” và rất nhiều món khác nữa thì ngon tuyệt vời trong bửa ăn hàng ngày của dân Đồng Tháp:

Cá trê nướng, nước mắm gừng

Canh rau tập tàng, cá bống kho tiêu

Cơm khuya, cơm sáng, cơm chiều

Cơm bao nhiêu hạt, bấy nhiêu nồng nàn

Biết anh thích mắm cá trèn
Nên em chịu khó bẻ thêm đọt xoài

Kèo nèo mà lại làm chua
Ăn với cá rán chẳng thua món nào.

Điên điển mà đem muối chua,
Ăn cặp cá nướng đến vua cũng thèm!

Ngoài cá tôm ê chề, đến Đồng Tháp mà không nhậu thịt chuột, thịt rắn thì coi như chưa đến:

Cần chi cá lóc, cá trê
Thịt chuột, thịt rắn nhậu mê hơn nhiều.

Người Đồng Tháp, cũng như dân Lục Tỉnh khác, rất hiếu khách, khách đến nhà phải có “nhậu”:

Bắt con cá lóc nướng trui
Làm mâm rượu trắng đãi người bạn xa

Và ăn uống phải có nhiều người mới vui mới ngon:

Canh chua điên điển cá linh
Ăn chỉ một mình thì chẳng biết ngon

Đồng Tháp thì lắm ao, đầm lầy, nên là nơi trú ẩn của chim. Đồng Tháp Mười nổi danh với những “láng cò”, và bông sen, bông súng có quanh năm, và cũng là nơi chim le le sinh sống. Cò thì không có thịt mà lại tanh nên không ai ăn, nhưng thịt le le thì tuyệt vời. Món chim le le và chè hột sen, vì vậy, không thể thiếu trong bản thực đơn:

Thương chồng nấu cháo le le
Nấu canh bông bí, nấu chè hạt sen

Nhờ những câu hò của nàng, chàng biết được nếp sống của người dân Đồng Tháp. Trước khi từ giả nàng, chàng không quên khen nàng có giọng hò hay và đầy duyên dáng:

Sông sâu sóng bủa láng cò
Thương em vì bởi câu hò có duyên.

Và chàng bùi ngùi từ biệt, không biết còn gặp lại trên bến sông nào nữa không:

Gặp nhau còn biết trên sông bến nào?

Quang cảnh trên đường vào Tháp Mười thật hoang vắng, trời nước mênh mông, thỉnh thoảng có đàn chim kêu xao xác làm cảnh thêm buồn:

Mênh mông trời nước một màu

Nhóc nhen kêu rộ bắt xàu ruột gan.

Trời xanh kinh đỏ đất xanh

Đỉa bu, muỗi cắn làm anh nhớ nàng.

Bao giờ cho lúa chín vàng,
Cắt rồi anh trở về làng thăm em.

Và cuối cùng thì chàng đến được Tháp Mười. Đây là một gò cao dài chừng nửa cây số, hẹp chiều ngang, có nhiều cây cổ thụ hàng trăm tuổi, khác hẳn với đầm lậy lau sậy chung quanh. Gò Tháp Mười có 5 di tích: Tháp Mười, tháp Cổ Tự, mộ và đền thờ cụ Đốc Binh Kiều, gò Minh Sư, miếu Bà Chúa Xứ.

Huyền thoại cho rằng hồi xưa cánh đồng này là một xứ thịnh vượng, sau bị nước dâng lên cuốn hết. Trước sau có mười ông vua trị vì, mỗi ông xây một cái tháp làm nơi an nghĩ cuối cùng; tháp ở đây của ông vua thứ mười, nên gọi là Tháp Mười.

Năm 1932, nhà khảo cổ Pháp Parmentier đã đi vào Đồng Tháp để tìm hiểu, đọc được những chử Phạn khắc trên bia đá và phát giác ra ngôi tháp. Lần mò theo sử sách, người ta cho rằng Tháp mười là một trong những ngôi tháp bằng đá do vua Jayavarman VII xây cất khắp lãnh thổ Miên để thờ thần Bà La Môn Lockecvera, là vị thần chuyên trị bệnh cho nhân loại. Bên cạnh tháp có những căn nhà sàn gỗ lợp bằng đá mỏng, bằng ngói hay bằng lá thốt lốt để người bệnh nằm dưỡng bệnh do nhân viên y tế hoàng triều coi sóc. Những ngôi tháp được xây dọc theo các con đường lớn trong nước mà ngôi nằm trong Đồng Tháp Mười, tính từ điểm xuất phát, đứng vào hàng thứ mười. Thời gian trôi qua, tàn phá tất cả công trình kiến trúc của cổ nhân, dãy nhà tiêu tan, chỉ còn một tượng sư tử đá và một linh phù (linga) cũng bằng đá, dưới bệ có khắc chữ Bắc Phạn ghi tên Tháp thứ mười.

Chàng đến viếng miếu thờ và nghiêng mình trứoc hai vị anh hùng chống Pháp Thiên Hộ Dương, tức Võ Duy Dương (1827-1866) và Đốc Binh Nguyễn Tấn Kiều. Hai ông lấy Đồng Tháp Mười làm căn cứ chống Tây. Thiên hộ Dương vốn người Bình Định, vào lập nghiệp ở Đồng Tháp Mười, là một nhà hào phú, bỏ cả sự nghiệp mộ được 1000 nghĩa dõng nên được chức thiên hộ. Tương truyền ông là một võ sĩ tuyệt luân, cử nổi 5 trái linh (hai tay cầm 2 trái, 2 nách kẹp 2 trái, miệng cắm một trái, mỗi trái độ 60 cân) nên được gọi là “Ngũ Linh Thiên hộ”.

Chàng từ giả Tháp Mười, hướng về miệt Cao Lảnh. Chàng muốn xem giống “gà đá Cao Lảnh” trong số đó có giống gà nòi “Ô Mắt Diết” mà chàng ưa thích và thưởng thức xoài Cao Lảnh nổi tiếng ở Nam Kỳ.

Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh
Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân

Xoài nào ngon bằng xoài Cao Lãnh
Vú sữa nào ngọt bằng vú sữa Cần Thơ

Cao Lãnh vào thời vua Gia Long mang tên “Chợ Vườn Quít”, vì nơi đây kế bên vườn quít của ông bà Đỗ Công Tường, có tục danh là Lãnh. Ông bà là người rất hiền đức, tu hành, công minh, chính trực nên được cử làm chức “Câu đương”, giữ nhiệm vụ phân xử tố tụng trong làng. Năm 1820, dịch tả hoành hành tại làng ông, vô số người chết. Ông bà lập hương án giữa trời, cầu nguyện chết thay để dân làng khỏe mạnh. Ba ngày sau, ông bà đều chết. Dân làng bèn lập đền thờ tại vườn quít nhà Ông. Chợ mang tên “Câu Lảnh”, ghép chức vụ “Câu” với tên “Lảnh” của ông. Lâu ngày đọc thành Cao Lảnh.

Chàng từ giả Cao Lảnh hướng về Châu Thành. Ghe chàng ghé Chợ Gảy. Gọi là chợ, sự thật trong thập niên 1940 chỉ có mươi căn nhà dọc theo kinh. Từ trong một quán ăn, chàng thoáng nghe tiếng hò rất trong trẻo của một cô gái chèo đò:

Hò ơ Dõi dõi theo anh
Về nơi Châu thành
Coi nam thanh nữ tú
Ở chi đất này… (ờ)
Hò ơ… ở chi đất này vượn hú chim kêu

Đất Châu Thành anh ở
Xứ Cần Thơ nọ em về
Bấy lâu sông cận biển kề
Phân tay mai trúc dầm dề hột châu

Có tiếng hò đáp lại từ một cậu trai trên sông:

Bước cẳng xuống tàu, tàu khua rổn rổn
Tàu Nhựt Bổn lấy nước Châu Thành
Anh với em phải nói cho rành
Để anh lên xuống nhọc nhằn thân anh.

Chuồn chuồn bay thấp

Mưa ngập ruộng vườn

Nghe lời nói lại càng thương

Thương em, anh muốn lập vườn cưới em.

Một trăm con gái Thủ
Một lũ con gái chợ
Anh cũng không màng
Anh chỉ thương con gái ruộng cơ hàn nắng mưa

Tiếp theo là giọng hò của cô gái:

Chiếc tàu xanh đề chữ đỏ
Chiếc tàu nhỏ đề chữ Châu Thành
Gặp mặt anh đây mần lẻ không đành (mần lẻ tức làm vợ bé)
Sợi chỉ tơ thắt ruột, sợi chỉ mành thắt gan.

Chàng buột miệng khen giọng hò của đôi thanh nam nử tú vùng Đồng Tháp. Chàng đã từng đi khắp vùng Lục Tỉnh, nhưng chưa hề nghe những câu hò hay và giọng hò thanh tao lanh lảnh như vậy trong buổi chiều chạng vạng trên sông. Ông chủ quán cho chàng biết thêm là vùng Đồng Tháp rất nổi tiếng về hò của vùng Lục Tỉnh. Và ông kể một chuyện tình bi thảm cũng do tiếng hò:

Trong thập niên 1930, vùng này rất vắng vẻ, chỉ khoảng hơn mươi căn nhà dọc mé rạch. Một ngày đầu năm, một cặp vợ chồng trẻ chèo một chiếc xuồng tới, lên bờ tìm một miếng đất cất chòi. Họ chưa có con cái, ít giao du với ai. Hai người quen nhau rồi yêu thương đậm đà qua tiếng hò trên sông rạch. Người vợ không có sắc mà có duyên, người chồng lầm lì, ít nói và rất siêng năng. Sau 7 ngày làm việc xa nhà trong Đồng Tháp, chàng vừa về tới xóm vào lúc chạng vạng thì nghe giọng hò của đôi nam nử trên rạch. Hai giọng hò rất thanh làm dân trong xóm chạy ra bờ rạch lắng nghe:

Hò o o ớ ớ Em đừng ham chỗ giàu sang,
ơ ơ ơ… Tuổi cao tác lớn mà trao thân vàng ơ ơ ơ…

Bên nam tiếp tục, lời có chút gay gắt quyết liệt gắn bó

Hò ơ ơ ớ ớ… Mù u bông trắng lá thắm nhụy vàng,
ơ ơ ơ… Anh đi khắp xứ, tơi đây mới được gặp nàng, ơ ơ ơ… thật là dễ thương ơ ơ…
Hò ơ ơ ớ ớ… Nghe giọng nàng, anh những vơ vẩn vấn vương…
Sống cùng nhau chẳng được, cho anh phải mơ màng chiêm bao…

Anh chồng vội vàng chạy đến xem thì thấy vợ mình đang ngồi trên sàn nhà mé rạch hò đối đáp. Chàng hồi hộp đợi … Sau ít phút đắn đo, người vợ cất tiếng:

Hò ơ ơ ớ ớ… … Lửng da trời, bay lượn con chim hồng,
Gặp nhau sao quá trễ cho tấm lòng này xót xa.
Đêm nằm em luống những thở ra,
Đôi ta chẳng…

Tới tiếng “đôi ta” mắt nàng sáng lên, đắm đuối trong ánh trăng và giọng nàng hơi lơi lả… Đám đông bỗng vẹt ra, có cái gì loang loáng vút trong không, đầu thiếu phụ đã lăn trên đất, một dòng máu vọt lên. Ai nấy chạy tán loạn. Đêm hôm ấy một chòi lá cháy rực trong xóm mà không ai dám lại cứu. Sáng hôm sau, một ngôi mộ mới đắp hiện lên ngay chỗ thiếu phụ chết. Còn người chồng từ đó biệt tăm, không ai biết là đi đâu.

Nghe xong câu chuyện buồn, chàng thẩn thờ xuống ghe. Ghe chàng hướng về Sa Đéc, Nha Mân. Sa Đéc là một thị trấn sầm uất nhất của tỉnh Đồng Tháp, nhất là vào đêm. Gái Nha Mân nổi tiếng đẹp, có làn da trắng của gái Miệt Vườn, lại tài giỏi trong nử công gia chánh:

Đèn nào sáng bằng đèn Sa Đéc
Gái nào đẹp bằng gái Nha Mân
Anh thả ghe câu lên xuống mấy lần
Thương em đứt ruột, nhưng tới gần lại run.

Xưa kia, Sa Đéc là đất của Cao Miên mang tên Psar-dek (nghĩa là chợ Sắt). Tên Psar-dek bắt nguồn từ một chuyện tình buồn. Chuyện rằng ngày xưa có nàng tên Psar-dek, con gái của một lảnh chúa, phải lòng một chàng trai nghèo. Phản đối mối tình này, cha nàng đã sai người trói chàng trai và thả trôi sông. Nàng Psar-dek buồn tình nên đi tu. Về sau, khi cha mất, nàng dùng tài sản của gia đình để làm việc từ thiện, tu bổ đường xá, xây cất chợ búa. Từ đó người ta gọi chợ và vùng này là Psar-dek.

Chàng cảm thấy không được vui trong chuyến đi thăm Đồng Tháp, vì hai cuộc tình bi thảm mà chàng nghe kể lại. Chàng nhìn dòng sông hiu quạnh, nhìn trời chập chùng mây trắng, lòng chàng nặng trỉu mối ưu tư:

Ngó lên mây bạc chín tầng,

Thấy bầy chim lạ, nửa mừng nửa lo.

Theo cánh chim phiêu bạc, ghe chàng bập bềnh trôi theo dòng nước hướng về miệt Vĩnh Long.

Phần 4: VĨNH LONG – TRÀ VINH

Sau khi nghe hai chuyện tình đầy bi thương trên bước đường viếng thăm Đồng Tháp vừa qua, lòng chàng nặng trĩu nỗi u buồn. Lênh đênh trên con thuyền nguợc dòng nước Tiền Giang, chàng bổng chợt nhớ đến con “thuyền Bát Nhã” đưa con người ra khỏi bến mê.

Cậy anh chuốt một cây sào,

Chống thuyền Bát Nhã qua ao Long Hồ

Nhưng chàng còn quá nặng tình trần thế. Chàng đang giang hồ đến xứ Long Hồ để xem phong cảnh và con người chứ chưa phải lúc tìm đường thoát tục. Long Hồ phát xuất từ tiếng “Longhor” của người Miên, vì ngày xưa, đây là đất thuộc xứ Tầm Đôn (nay là trung tâm thị xã Vĩnh Long) và Xuy Lạp của Cao Miên. “Long Hồ Dinh” được thành lập năm 1732, dưới thời chúa Ninh Vương Nguyễn Phúc Trú, gồm Vĩnh Long, Bến Tre và một phần Cần thơ ngày nay. Long Hồ vốn là vùng đất cố cựu của Vĩnh Long, nổi danh “địa linh nhân kiệt”. Biết bao nhân tài được sinh ra hay lập nghiệp ở đây: Phan Thanh Giản (1796- 1867, sanh tại Bảo Thạnh, Ba Tri, trước thuộc Long Hồ, nay thuôc Bến Tre), Phan Tôn, Phan Liêm (con của Phan Thanh Giản), Petrus Trương Vĩnh Ký (1837-1898, sinh tại ấp Cái Mơn, Chợ Lách – nay thuộc Bến Tre), Bùi Hửu Nghĩa (1807-1872, sinh tại Long Tuyền, nay thuộc Cần Thơ).

Long Hồ là xứ địa linh

Đất sinh nhân kiệt, người sinh anh hùng

Vĩnh Long có cặp rồng vàng

Nhất Bùi Hữu Nghĩa, nhì Phan Công (hay Luân) Thần (tức Phan Thanh Giản)

Ông Phan Thanh Giản là người đậu tiến sỉ đầu tiên ở Nam Kỳ, vào lúc tuổi 30. Trong 41 năm làm việc (từ 1826 đến 1867), ông từng giữ các chức vụ quan trọng như thượng thư Bộ Lễ, Bộ Hình, Bộ Hộ, làm Hiệp biện Đại học sĩ, làm quan trải qua 3 đời vua: Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức. Ông là người tính cương trực, khẳng khái, hiếu nghĩa, thanh liêm, được nhiều người kính phục. Ông cũng từng được cử đi sứ Trung Quốc, Pháp, và nhiều nước khác… Khi sang Pháp thương nghị, ông tận mắt chứng kiến sự hùng mạnh của người Tây, ông đã viết bài Tự Thán, cũng như Nguyễn Trường Tộ, ông đề nghị đất nước phải canh tân, nhưng từ quan tới vua, không ai nghe lời ông, còn cho rằng đi xa về nhà nói khoác.

Từ ngày đi sứ tới Tây kinh,

Thấy việc Âu châu phải giật mình.

Kêu gọi đồng bang mau kịp bước,

Hết lời năn nỉ chẳng ai tin…

Ngày 20 đến 24 tháng 6 năm 1867, Pháp đánh chiếm Vĩnh Long, rồi An Giang và Hà Tiên. Trước sức mạnh áp đảo của Pháp về mặt quân sự, biết thế không thể giữ nổi, để tránh đổ máu vô ích, ông đã quyết định trao thành, không kháng cự, với yêu cầu người Pháp phải bảo đảm an toàn cho dân chúng. Sau khi thành mất ông tuyệt thực suốt 17 ngày, rồi uống thuốc độc tự tử vào ngày 4 tháng 8 năm 1867, hưởng thọ 72 tuổi. Vì để mất 3 tỉnh Miền Tây, vua Tự Đức lên án trảm giam hậu và đục tên ông ra khỏi bia đá Tiến sỉ. Phải 19 năm sau, vua Đồng Khánh mới khai phục nguyên hàm Hiệp tá đại học sĩ và cho khắc lại tên ông ở bia Tiến sĩ. Nhưng cho tới ngày nay, một số trường vốn từng mang tên ông vẫn chưa được phục hồi tên củ. Ngậm ngùi trước bậc kỳ tài gặp nhiều oan trái, chàng đến viếng mộ ông và kính cẩn nghiêng mình:

Bây giờ thì ghe chàng đến Trà Ôn, nơi đây có đền thờ một người Miên có nhiều công trạng với chúa Nguyễn Ánh:

Lịch thay cuộc địa Trà Ôn

Miếu ông Điều bát lưu tồn đến nay

Đất Giồng Thanh Bạch xưa kia (nay thuộc Xã Thiện Mỹ, Trà Ôn)

Có đền ông lớn với bia lưu truyền.

Tiền quân Thống chế Điều bát tên thật là Thạch Duồng, gốc Miên, người quê làng Nguyệt Lãng, xã Bình Phú, Càng Long, Trà Vinh. Do có công với triều Nguyễn nên ông được ban quốc tính – họ Nguyễn, tên đầy đủ là Nguyễn Văn Tồn. Ông được nhân dân Trà Ôn tôn kính như một bậc tiền hiền có công khai hoang mở cõi vùng đất này.

Không xa đây lắm là cù lao An Bình và Bình Lương, vốn là hai thắng cảnh của xứ Long Hồ, với vườn cây thơm ngọt, đậm đà tình quê:

An Bình đất mẹ cù lao,

Thơm hương hoa bưởi, ngọt ngào nhãn long.

Khách về nhớ mãi trong lòng,

Cù lao nho nhỏ bên dòng Tiền Giang

Bình Lương gió lộng về chiều,

Bến đò Tân Tạo có nhiều khách sang.

Đò dọc rồi lại đò ngang,

Đò qua chợ Vĩnh, đò sang An Bình

Bình Lương là chốn náo nương,

An Bình là chỗ tình thương đậm đà

Vĩnh Long có nhiều phong cảnh đẹp, trai thanh gái lịch, đất đai ruộng vườn phong phú, sông rạch lại lắm cá tôm:

Vĩnh Long cảnh lịch, người xinh

Ruộng vườn tươi tốt, dân tình hiền lương.

Vĩnh Long giàu bưởi Bình Minh

Cam quít Tam Bình, đồng lúa Vũng Liêm

Bà Phong, Bà Phận, Ông Cớ, Ông Nam

Dưới sông cá bạc, tôm vàng

Ruộng đồng lúa trúng, nhiều bạn hàng tới lui.

Rạch Cái Cam, vườn cam sai quả

Rạch Cái Cá, cá lội thành đàn

Lòng tôi tha thiết yêu nàng

Như vườn cam ngọt, như đàn cá bơi.

Chàng từ giả Vĩnh Long, ghe chàng theo dòng sông Măng Thít xuôi về miệt Trà Vinh. Sông Mang Thít có dòng nước xoáy

Rạch Bà Soi nước chảy vòng cung

Người đi mang nỗi nhớ nhung

Sông này vẫn giữ thủy chung với người.

Trà Vinh tiếng Miên là “Preastrapeang” có nghĩa là “Hồ thánh”, phải chăng ám chỉ “Ao Bà Om” ? Ao Bà Om rộng tới 15 ha, nằm trên giồng đất cao, người Miên đào ao này từ thời xa xưa để giữ nước ngọt cho nguyên vùng. Theo Phật Giáo tiểu thừa, các sư sải Miên là người lảnh đạo tinh thần của Sóc (Srok – thôn làng). Vì vậy việc quản lý hồ nước đều do nhà chùa đảm trách, nên bên cạnh hồ đều có chùa. Đó là Chùa Âng bên cạnh, một thắng cảnh của Trà Vinh.

Biển Ba-Động nước xanh cát trắng,

Ao Bà Om thắng cảnh miền Tây,

Xin mời du khách về đây,

Xem qua thì biết chốn nầy thần tiên.

Chuyện xưa kể rằng, mỗi khi nam và nữ trong làng muốn cưới nhau, không bên nào dám ngỏ lời trước, vì sợ chịu phí tổn hôn nhân rất lớn. Nên nhân chuyện đào ao lấy nước, dân làng cho hai bên nam nữ thi đua, mỗi bên đào một hồ, bên nào thua phải chịu tốn kém cho việc cưới xin. Người lãnh đạo phái nữ là Bà Om liền nghĩ ra một kế. Khi trời vừa sập tối, bà cho bày tiệc thết đãi các ông và cho các thiếu nử đứng ra múa hát. Vì quá chén và bên người đẹp, ỷ lại vào sức của mình, nên các ông lơ là nhiệm vụ. Tới nửa đêm, Bà Om treo ngọn đèn lên cành cây làm họ lầm tưởng là sao Mai mọc, xách đồ nghề về. Các bà ở lại cắm cúi đào và chiến thắng. Địa danh ao Bà Om được lưu truyền từ đó. Người “Yuôn” (người Miên gọi người Việt là yuôn) gọi là “Ao Bà Om” hay “Ao Vuông”, nhưng người Miên gọi là Sra Cu (Hồ đôi), bởi vì có 2 ao, một lớn một nhỏ, do 2 phái đào.

Khi nghe xong huyền thoại này, chàng bật cười một mình: Người Miên xưa đã biết tổ chức “tiệc ôm”, “ca ôm”, và như vậy phải là ao “Bà Ôm” mới đúng.

Y phục của cả hai phái nam và nử Miên là chiếc xà-rông (sarong) quấn từ ngực trở xuống. Riêng các thiếu nữ thì xa-rông có hoa văn, màu mè, rất đẹp. Chuyện bên lề lịch sử kể rằng sứ Trung Hoa đến viếng nước Phù Nam vào thế kỹ thứ 4. Nước Phù Nam bấy giờ gồm đất từ Phú Yên cho tới Lục Tỉnh, Campuchia, Lào và Thái Lan bây giờ. Nước Phù Nam rất giàu có, đâu đâu cũng có đền đài tráng lệ, nhà cửa dân chúng đẹp đẻ. Duy có một điều ông chê là còn man di, vì người Phù Nam không mặc áo quần, chỉ ít vải quấn phần dưới. Ông nói điều này cho vua Phù Nam biết. Vì vậy, nhà vua ra lệnh cho tất cả mọi người Phù Nam phải lấy vải bao khắp thân thể từ trên xuống dưới. Chính nhờ vậy chiếc xà-rông xinh đẹp, khêu gợi, và hấp dẩn hiện diện ở khắp vùng Đông Nam Á, vốn là lảnh thổ của Phù Nam .

Trong bộ y phục Xà-rông rạng rở màu sắc, các cô gái Miên, nhất là các cô Miên lai, đẹp và khiêu gợi vô cùng, nên lắm chàng trai “Yuôn” đã phải:

Nước chảy Láng Linh, chảy ra Vàm Cú

Thấy dáng em chèo, cặp vú muốn hun

hay:

Nước chảy sông xa, chảy qua Trà Cú

Thấy dáng em chèo, cặp vú muốn hun

Cô gái Miên thì tính thật thà:

Hai tay em cắm xuống bùn

Mình mẩy lấm hết, chớ anh hun chỗ nào?

Còn chàng trai “Yuôn” thì láu lỉnh:

Cầu trời đổ trận mưa rào

Bùn sình trôi hết, chỗ nào anh cũng hun!

Nói thì nói vậy, chứ cô gái Miên rất đứng đắn và chung tình:

Cá Trà Vinh xanh kỳ đỏ dạ

Gái xứ nầy không lang chạ đâu anh…

Trà Vinh là xứ thịnh vượng vì có ruộng tốt dưới đồng sâu, có vườn xanh trên đất giồng cao, có biển, có sông, có nhiều tôm cá, mà dân tình lại đôn hậu, đoàn kết với nhau:

Trà Vinh là xứ ruộng, giồng,

Rừng xanh, biển rộng, nhiều sông, lắm vườn

Con người hiền hậu dễ thương

Xa quê lập hội đồng hương kết tình.

Đây là vùng đất Miên, và người Miên chiếm tới 29% dân số, nên các địa danh vẫn giữ tên Miên:

Trà vinh, Trà cú, Trà kha

Trà cuôn, Trà tro, Mặc dồn

Chầm ca, Chăng mật, Tầm rôn

Sâm bua, Sóc thác, Ô đùng, Tầm Phương

Ô trao, Ô chít, Quí nong

Ô răng, Ô chát, Cà tum, Lò ngò

Chong văn, Chong bát, Chong so

Phiêu, Trà kháo, Bắc-sa-ma, Nô rè

Bà dam, Trà tót, Tha la

Dàm ray, Cà tóc, Kỳ la, Thị ròn

Thăm đua, Ba tục, Cà hom

La bang, Ba sát, Xà dần, Sóc Len

Hàm giang, Ba cụm, Nô men

Người đi bỏ lại mình “ên” em chờ

Và tên Miên của các địa danh thường được dùng làm câu đố:

Ðất nào bằng đất Trà vinh

Cửu long hai nhánh ôm tình quê hương !

Ðố ai cắt nghĩa : Trà cuôn,

Trà kha, Trà cú, Trà rom….là gì ?

Ô Ðùng, Ô Chác, Ô Tre

Ô Răng, Ô lắc, Ô Rè….ở đâu ?

Giồng Chanh, Giồng Lớn, Giồng Cau

Giồng Trôm, Giồng Lức,…giồng nào không… mô ?

Cồn Cu, Cồn Trứng, Cồn Ngao,

Cồn Ông, Cồn Lợi cồn…..nào vọp to ?

Long Toàn, Long Hữu, Long Hòa

Long Bình, Long Thới, …. phải là rậm…” long” ?

Cầu nào chẳng bắt qua sông

Cầu Quan ? Cầu Cống ? Cầu Ngang ? Cầu Kè ??

Ðố ai quên được tình quê

Ðố ai viễn xứ không về Trà vinh?!

Lại một lần nữa chàng cười nghiêng ngã với những câu đố nhiều thâm ý.

Đến Trà Vinh mà không thưởng thức các đặc sản của người Miên là một thiếu sót lớn. Ngoài “mắm bò hóc”, người Miên gọi “prohok”, mà chàng sẽ thưởng thức khi đến Sóc Trăng, một thổ sản của người Miên ở đây mà chàng ưa thích là “Cốm dẹp” làm từ hạt lúa nếp khi còn sửa.

Ngoài ra, đến Vĩnh Long Trà Vinh mà không thưởng thức món “cá cháy” thì coi như chưa biết gì:

Trà Ôn cá cháy lạ kỳ

Nấu rim kho mặn, món gì cũng ngon!

Cá cháy ở Trà Ôn là một món cá đặc sản quý và hiếm của vùng sông Hậu. Trên sông Hậu, từ Cầu Kè (thuộc Trà Vinh) lên đến xã Tích Thiện (Trà Ôn) là vùng gặp nhau giữa nước ngọt và nước lợ. Hàng năm, khoảng từ trước tết đến sau tết một tháng, nhiều nhất là các buổi sáng sớm có mù sương mờ mịt, cá cháy xuất hiện nhiều trên cả một khoảng sông dài.

Những ngày vui ở Trà Vinh cũng chóng trôi qua. Chàng từ giả Trà Vinh, ngược dòng sông Hậu. Khi đến Vũng Liêm, chàng sực nhớ là chưa đến viếng thăm quê của Thoại Ngọc Hầu:

Ai về thăm lại Trà Ôn

Tháng giêng mùng bốn giỗ ông Ngọc Hầu

Thoại Ngọc Hầu (1761-1829) người gốc Quãng Nam , vào nam lập nghiệp tại Cù Lao Dài thuộc Vũng Liêm (trước thuộc tỉnh Vĩnh Bình, nay thuộc Vĩnh Long). Ông và phu nhân có công lớn khai phá vùng Châu Đốc, đào kinh Thoại Hà, Vĩnh Tế, lập 5 làng ở Châu đốc. Dầu có công lao như vậy, và mặc dầu đã chết rồi, vua Minh Mạng vì nghe lời vu cáo, đã giáng chức ông, con trai ông bị lột ấn hàm, điền sản bị tịch thu, và con cháu mấy đời sau cam phận sống cảnh dân dã nghèo nàn. Phải 90 năm sau, dưới đời vua Khải Định, nổi oan của ông mới được giải. Nhưng than ôi, con cháu ông đã lưu lạc bốn phương trời! Phải chăng người dân dả Miền Lục Tỉnh đã mượn hoàn cảnh của ông Móm để ngậm ngùi tưởng nhớ Ông và thương xót cho con cháu Ông.

Ruộng cò bay dặm dò truông cóc

Cháu con ông Móm lăn lóc cơ hàn

Ai xuôi khiến cảnh bẽ bàng

Mồ ông còn đó họ hàng chẳng thăm.

Vì vậy, chàng quyết định đi thẳng đến An Giang, Châu Đốc để chiêm ngưởng những công trình khai phá ngày xưa của Ông.

Phần 5: AN GIANG – CHÂU ĐỐC HÀ TIÊN – RẠCH GIÁ

Ảnh: Hòn Phu Tử Hà Tiên

Từ Trà Ôn ghe chàng ngược dòng sông Hậu qua vùng Cần Thơ và trực chỉ Long Xuyên, Châu Đốc. Chàng dự trù trên chuyến về mới ghé Cần Thơ. Cần Thơ và Long xuyên nổi tiếng về trai thanh gái lịch:

Trai Nhân Ái gái Long Xuyên (Nhân ái thuộc Cần Thơ)

Cũng như vùng Đồng Tháp, Long Xuyên Châu Đốc có đủ các thức ăn độc đáo của Miền Tây.

Rau đắng nấu với cá trê

Ai đến lục tỉnh thì mê không về.

Ngoài ra còn nổi tiếng về mắm cá lóc.

Mắm Châu Đốc

Dốc Nam Vang

và nhiều đặc sản khác:

Bánh Tráng Mỹ Lồng

Bánh phồng Châu Đốc

Nhà thơ Tản Đà, vốn sành điệu rượu và thức ăn ngon của ba miền Bắc Trung Nam, khi đến Long Xuyên Châu Đốc trong thập niên 1930s đã thốt:

Hà tươi cửa biển Tu Ran, ( Tourane tức Đà Nẳng)

Long Xuyên chén mắm, Nghệ An chén cà.

(Thơ Tản Đà)

Trong suốt cuộc hành trình vừa qua, chàng chỉ thấy những cánh đồng bao la, cò bay thẳng cánh, xanh mướt một màu, thấp thoáng những mái nhà ẩn sau những hàng cây cao vút. Nhưng khi qua khỏi Long Xuyên, trên cánh đồng lúa xanh bao la tận chân trời là ngọn Thất Sơn sừng sửng ngạo nghể trong mây mờ:

Thất Sơn ai đắp mà cao

Sông Tiền, sông Hậu ai đào mà sâu

Năm non ở tại núi Đà (tức Đà Nẳng)

Bảy núi Châu Đốc gọi là Thất Sơn

Hồi niên thiếu, chàng đã từng nghe nhiều câu chuyện huyền bí của Thất Sơn, nơi có nhiều Ông Đạo tu hành:

Anh đi lên Bảy Núi,

Anh chạy thẳng núi Tà Lơn,2

Căn nợ keo sơn, thấu đến ông Trời

Ngó lên trời thấy trời cao,

Ngó xuống đất thấy đất thấp,

Anh đến tam cấp

Lập Cửu Trùng Đài

Thời hư trời khiến; anh lập hoài cũng phải nên.

So với miền Trung và miền Bắc, Thất Sơn không cao lắm, nhưng cũng đủ cao và đầy hiểm nguy cho người dân vùng đồng bằng:

Thương em Bảy núi cũng trèo

Ghét em núi Két vượt đèo cũng không (Núi Két thuộc Thất Sơn)

Ghe chàng đến vùng Chợ Mới, tức cù lao Ông Chưởng, nơi Ông Lễ Thành Hầu Nguyễn Hửu Cảnh có xây đồn Cây Sao. Sau khi chinh phạt Cao Miên về lại Cù Lao này (năm 1700) ông bắt đầu nhuốm bệnh và mất khi thuyền ông đến Rạch Gầm (Mỹ Tho). Vì vậy, nơi đây có đền thờ ông. Tại cù lao Ông Chưỡng có Rạch Ông Chưởng, người Miên gọi “Péam prêk chaufay”, nối Sông Tiền với sông Hậu, là nơi rất trù phú.

Chiều chiều quạ nói với diều

Cù lao ông Chưởng có nhiều cá tôm.

Rồi ghe chàng đến Vàm Nao. Vàm là do chữ “Pãm” của Miên, chỉ chổ sông con chảy vào sông cái. Tiếng “Vàm Nao” cũng phát xuất từ tiếng Miên “pãm pênk Nàv”. Sông Vàm Nao chuyển nước sông Tiền vào sông Hậu nên dòng sông chảy xiết, rất hiểm nguy cho tàu bè. Sử sách viết sông Vàm Nao là “Hồi Oa” (nước chảy xoáy tròn) vì dòng sông chảy xiết có nhiều nước xoáy. Trong sách “ Nam kỳ phong tục diễn ca”, ông Nguyễn Liêng Phong có bài thơ về Vàm Nao:

Vàm Nao chữ đặt Hồi Oa

Chỗ nhằm mũi nước chảy qua quanh dòng

Sông Sau sông Trước hai dòng

Phân ra hai ngả ngoài trong vận đào

Các ngả gần chảy nhập vào

Tạc kêu là xứ Vàm Nao rõ ràng

(Thơ – Nguyễn Liêng Phong)

Ngày xưa, đó là đưòng mòn do voi đi mà thành một lạch nước nhỏ, nối sông Tiền và sông Hậu, về sau nước chảy xiết, đất lở mà lớn dần, ngày nay rộng tới 700 m. Vào thời Thoại Ngọc Hầu đào kinh Vĩnh Tế, sông Vàm Nao còn nhỏ, hai bên bờ tre mọc giáp tàng. Vì việc đào kinh quá cực khổ, nên một số dân chạy bộ trốn, khi đến Vàm Nao thì leo lên ngọn tre đánh đu chụp ngọn tre bên kia sông. Không ai dám lội qua sông vì nước chảy xiết, có nhiều xoáy nước, đồng thời nhiều cá sấu.

Thuyền xuôi Châu Đốc, thả xuống Vàm Nao,

Thẳng tới Ba Sao, coi chừng con nước đẩy.

Dòng sông Vàm Nao là một nguồn tình cảm của dân miền Lục Tỉnh:

Ngó lên Châu Đốc,

Thấy gốc bần trôi.

Ngó xuống Vàm Nao,

Thấy sóng bủa lao xao.

Anh thương em ruột thắt gan bào,

Biết em có thương lại, chút nào hay không?

Ngó lên Châu Ðốc Vàm Nao

Thấy buồm anh (em) chạy như dao cắt lòng

Vàm Nao, Giao Lửa các cồn,

Tục dân cư xử lưu tồn cổ phong.3

Bắp non mà nướng cửa lò,

Đố ai ve được con đò Vàm Nao.

Tôi với anh đi giữa dòng kênh Cái Hố,

Lấy miểng vùa tát cạn bến Vàm Nao.

Ở trên Châu Đốc, ngó xuống Vàm Nao

Thấy con cá đao nó nhảy nhào vô lưới,

Anh ngồi chắc lưỡi,

Không biết chừng nào mới cưới đặng em.

Rồi ghe chàng đến Châu Đốc:

Chàng đi Châu Đốc, Nam Vang,

Nỗi sầu em chịu, đa mang một mình.

Anh đi Châu Đốc Nam Vang,

Viết thơ nhắn lại em khoan lấy chồng.

Đậu phọng béo đậu nành cũng béo

Bước lên xe kéo miệng réo xe hơi

Đường đi Châu Đốc xa vời

Gửi thư thì khó, gửi lời thì không.

Châu Đốc, nơi địa đầu biên giới ở mặt Tây Nam, có sông Tiền sông Hậu làm phương tiện giao thông tới Cao Miên và Lào, trên sông rộng mênh mông, lại lắm cồn, người Pháp có đặt đèn hiệu trên cột cao, tương tự như hải đăng trên biển cả để hướng dẫn ghe tàu:

Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc,

Đất nào dốc cho bằng đất Nam Vang?

Một tiếng anh than,

Hai hàng lụy nhỏ,

Có cha mẹ già biết bỏ cho ai?

hay:

Có chút mẹ già, biết bỏ ai nuôi ?

Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc

Dốc nào cao bằng dốc Nam Vang

Đói no em chịu cùng chàng

Xuống sông ra biển lên ngàn cũng theo.

Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc

Xứ nào dốc bằng xứ Nam Vang

Một tiếng anh than ba bốn đôi vàng em không tiếc

Anh lấy đặng em rồi anh trốn biệt lánh thân

Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc

Dốc nào cao bằng dốc Cần Thơ

Anh thương em lững đững lờ đờ

Giả như Tôn Các mà chờ Bạch Viên.

Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc

Gió nào độc bằng gió Gò Công

Nổi một trận giông lạc vợ mất chồng

Đêm nằm nghĩ lại phật phồng lá gan.

Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc

Gió nào độc bằng gió Gò Công

Thổi ngọn đông phong lạc vợ xa chồng,

Đêm nằm nghĩ lại nước mắt hồng tuôn rơi.4

Đèn nào cao bằng đèn Sở Thượng,

Nhân nghĩa nào trượng bằng nhân nghĩa phu thê?

Dầu anh có lạc Sở qua Tề,

Năm ba bữa anh cũng trở về thăm em.

Chàng đi viếng Tri Tôn, người Miên gọi là Xà Tón, và Nhà Bàn thuộc vùng Thất Sơn

Tri Tôn Châu Đốc rất gần

Thương anh em nhớ, em lần xuống thăm.

Đường Nhà Bàn nó trơn như mỡ,

Đường ngoài chợ lạnh tợ thâm sương.

Giăng tay se sợi chỉ hường,

Kết duyên chồng vợ kiếm đường ra vô.

Hang Tra là xứ quê mùa,

Đi thăm cháu ngoại cho vừa Cà na.

Đến Châu Đốc thì phải đến Tân Châu, nơi nổi tiếng về nuôi tầm, ươm tơ, dệt lụa. Lụa Tân Châu nổi tiếng với lảnh Mỹ A:

Có ai thích đến xứ thơ

Ghé qua xứ lụa bên bờ Tiền Giang.

Dòng sông thẳng tắp hàng ngàn,

Tàu ghe xuôi nước đò sang bên này.

Bên nàng mặc lãnh Mỹ A

Đưa đò sang chợ, tưởng xa hóa gần.

Từ ngàn xưa, cảnh chàng ngồi đọc sách bên cạnh nàng quay tơ là hình ảnh đẹp, hạnh phúc và đầm ấm của gia đình

Sáng trăng trải chiếu hai hàng

Bên anh đọc sách, bên nàng quay tơ

Quay tơ phải giữ mối tơ

Dẫu năm bảy mối cũng chờ mối anh…

Là xứ tơ tầm dệt lụa, gái Tân Châu rất đảm đang, khéo léo và chung tình. Bằng mọi giá để cưới được cô gái Tân Châu:

Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh

Gái nào bảnh bằng gái Tân Châu

Anh thương em chẳng ngại sang giàu

Mứt hồng đôi lượng, trà Tàu đôi cân.

Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh

Gái nào bảnh bằng gái Tân Châu

Anh thương em chẳng ngại sang giàu

Thương vì cái nết trước sau chung tình.

Tuy nhiên cũng có nhiều bà mẹ chồng xứ lạ không biết giá trị của gái Tân Châu, đã đối xử tệ bạc với nàng dâu. Cô dâu nhẹ nhàng nhắc nhở bà mẹ chồng:

Con mèo trèo lên cây táo

Mẹ chồng nương náu, chưởi mắng nàng dâu

Bà ơi không sợ bà đâu

Bà đừng chửi mắng mà mang tiếng đời

Bà cưới tôi có rượu có trầu

Có đưa có rước, nàng dâu mới về

Tôi về bà nhún bà trề

Để con bà ở lại tôi về xứ tôi

Xứ tôi là xứ Tân Châu

Cũng có ngựa ô, ngựa bạch ngựa hồng của tôi. Còn chàng trai Châu Đốc thì một lòng một dạ:

Chiều chiều bơi xuồng ra con sông Cái,

Thôi thôi tôi lấy cái lưỡi hái tôi tự ái cho rồi,

Sống làm chi mà biệt ly quân tử,

Thác xuống diêm đài cho trọn chữ hiếu trung

Cuối cùng, chàng lên núi Sam để viếng đền Bà Chúa Xứ và đền thờ Thoại Ngọc Hầu, nguời đã có công lao đào kinh Vĩnh Tế và kinh Thoại Hà, cùng việc mở mang Châu Đốc:

Nước kênh Vĩnh Tế lờ đờ,

Nhớ ông Bảo Hộ dựng cờ chiêu an

Tuy công lao như vậy, vì nghe lời xàm tấu vu oan, vua Minh Mạng giáng chức ông, tịch biên điền sản, lột ấn hàm con ông, làm con ông trốn đi biệt xứ không biết ở đâu, con cháu nào còn ở lại thì trở nên nghèo nàn, vì vậy ai ai cũng đau lòng:

Đi ngang qua cảnh núi Sam,

Thấy lăng ông lớn hai hàng lụy rơi.

Ông ngồi vì nước vì đời,

Hy sinh tài sản không rời nước non.

Từ giả Châu Đốc, chàng đi Hà Tiên theo kinh Vĩnh Tế.

Kênh Vĩnh Tế, biển Hà Tiên,

Ghe thuyền xuôi ngược bán buôn dập dìu.

Mang Khảm là đất Hà Tiên ngày xưa. Người Hoa gọi vùng Mang Khảm là “Phương Thành”, do biến âm từ “Phnom Tà Pang” của người Miên gọi vùng này. Riêng người Việt thì gọi “Hà Tiên”, do nói trại từ tiếng Miên “Tà Ten”, nghĩa là sông Ten, tức sông Giang Thành phát xuất từ Cao Miên chảy vào vũng Đông Hồ của Hà Tiên. Để thi vị hóa thị trấn nên thơ này, người Việt còn cho rằng ngày xưa tiên nữ thường xuống tắm ở sông Giang Thành nên đặt thành Hà Tiên.

Rồng chầu biển Bắc, phụng múa Hà Tiên

Anh thương sao mà gặp mặt thương liền

Tỷ như Lữ Bố, Điêu Thuyền thuở xưa.

Do việc chạy trốn nhà Thanh, thương gia Mạc Cửu (1655-1735) cùng hơn 300 tùy tùng gốc Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu đến tị nạn ở vùng đất này, vốn thuộc lảnh thổ Cao Miên, và biến thành thị trấn Hà Tiên phồn thịnh.

Thằng Hóa Quảng về Quảng Hóa

Bạn hiền ta ở lại Hà Tiên

Làm sao rõ đặng căn nguyên

Dầu sông dầu biển đi liền tới nơi

Dưới thời Mạc Cửu, Hà Tiên mang tên Căn Khẩu, và vùng Hà Tiên là Căn Khẩu Quốc. Sau khi đuổi quân Xiêm, chúa Nguyễn đổi thành Hà Tiên Trấn. Mạc Thiên Tứ cai trị trấn Hà Tiên rất thịnh vượng, mở văn đàn làm thơ, phổ nhạc, vịnh phú, lập Chiêu Anh Các để chiêu nạp nhân tài. Hà Tiên có nhiều phong cảnh đẹp, Mạc Thiên Tích mô tả 10 cảnh đẹp của Hà Tiên qua bài thơ:

Mười cảnh Hà Tiên rất hữu tình

Non non nước nước gẫm nên xinh.

Đông Hồ, Lộc Trĩ luôn dòng chảy

Nam Phố, Lư Khê một mạch xanh.6

Tiêu Tự, Giang Thành chuông trống ỏi

Châu Nham, Kim Dữ cá chim quanh.

Bình San, Thạch Động là rường cột

Sừng sững muôn năm cũng để dành.

(Thơ Mạc Thiên Tích)

Hà tiên là xứ nuôi đồi mồi, nên sản xuất hàng thủ công từ đồi mồi. Núi Tô Châu, sông Giang Thành và Đông hồ được dân gian ca tụng:

Chiều trông về núi Tô Châu

Thấy em gánh nước trên đầu giắt trâm.

Trâm đồi mồi tóc em em giắt

Mắt anh nhìn thương thiệt là thương.

Dãi dầu một nắng hai sương

Tóc em vẫn mượt mùi hương vẫn còn.

Tóc quăn chải lược đồi mồi

Chải đứng chải ngồi quăn vẫn còn quăn.

Gió đẩy gió đưa cho vừa lòng bạn

Con sông Giang Thành chỗ cạn chỗ sâu.

Thăm em anh phải bắc cầu

Lội sông sợ ướt cái đầu hết duyên.

Ngoài đặc sản đồi mồi và cá của vùng biển, Hà Tiên còn có nhiều nông sản của vùng đất phèn như thơm khóm, hay vùng đất cao của núi rừng như mít, như khoai.

Đưa anh ra tới bờ hồ (Đông Hồ)

Em mua trái mít, em vồ trái thơm

Anh về nuôi cá thờn bơn

Trồng khoai, trồng sắn, thay cơm có ngày

Là vùng địa đầu của đất nước, thường bị Xiêm La và Cao Miên quấy phá:

Bậu lỡ thời như giặc Hà Tiên

Giặc Hà Tiên người ta còn đánh

Bậu lỡ thời như cánh chim bay

Cánh chim bay người ta còn chuộng

Bậu lỡ thời như ruộng bỏ hoang

Ruộng bỏ hoang người ta còn cấy

Bậu lỡ thời như giấy trôi sông

. . .

Bậu lỡ thời như lưới giăng ngang

Lưới giăng ngang người ta còn cuốn

Bậu lỡ thời ai muốn bạn đâu.

Ngày xưa, Hà Tiên là lị sở của Hà Tiên Trấn, gồm Hà Tiên, Rạch Giá, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau dưới thời chúa Nguyễn, nên rất phồn thịnh. Về sau, mất dần vị trí hành chánh, Hà Tiên trở thành tỉnh, rồi nay thành quận/huyện. Công việc làm ăn trở nên khó khăn, nên dân chúng phải đi nơi khác sinh sống.

Ở Hà Tiên mần ăn không khá

Anh về Rạch Giá anh bán cá mòi

Thương nhau không được ngỏ lời

Nước trôi thăm thẳm biết đời nào nên.

Tháng hai tháng ba anh đi chở cá

Không khá anh qua Rạch Giá chở khoai lang

Tìm người bạn ngọc thở than đôi lời

Biết làm sao lên đặng ông trời

Hỏi thăm duyên nợ đổi dời về đâu?7

Ai về Tân Phước Rạch Già

Gởi con cá lóc hái cà nấu canh

Ghe chàng xuôi theo kinh Hà Tiên – Rạch Giá. Ngày xưa, Rạch Giá rất hoang vu, toàn rừng ngập mặn, nhiều nhất là cây Giá (Excoecaria agallocha L.) mọc dọc mé sông ven biển. Rạch Giá dưới thời Mạc Cửu mang tên “Linh Quỳnh”.

Anh đi Rạch Giá qua truông

Gió rung ngọn sậy ngồi buồn nhớ em

U Minh Rạch Giá Thị Quá Sơn Trường

Dưới sông sấu lội trên rừng cọp đua

Đất Cần Thơ nam thanh nữ tú

Đất Rạch Giá vượn hú chim kêu

Quản chi nắng sớm mưa chiều

Lên doi xuống vịnh cũng chèo thăm em

Nhưng bây giờ thì Rạch Giá trở nên thị tứ

Chợ Sài Gòn cẩn đá

Chợ Rạch Giá cẩn xi mon

Giã em ở lại vuông tròn

Anh về xứ sở không còn vô ra

Từ Rạch Giá, chàng dong thuyền qua biển đến đảo Phú Quốc, cặp bến Dương Đông. Dương Đông rất trù phú, nổi tiếng về mắm và hải sản.

Gặp cơm Ba Thắc thơm ngon

Chan nước mắm Hòn ăn chẳng muốn thôi

Phú Quốc cũng có đồi sim hoa tím. Nhà thơ Kiên Giang, gốc người Rạch Giá, từng thưởng thức trái sim ở Phú Quốc, cảm hứng làm nên hai câu thơ *, nay trở thành ca dao:

Ðói lòng ăn nửa trái sim*

Uống lưng bát nước đi tìm người thương*

Người thương, ơi hỡi, người thương,

Đi đâu mà để buồng hương lạnh lùng.

Khách giang hồ đến đây nhìn phong cảnh mà chạnh lòng, nhất là những chàng si tình:

Dương Ðông gió lạnh không tình sưởi

Rượu đã say mèm vẫn nhớ thương

Ðèn cầu tàu ngọn lu ngọn tỏ

Anh trông không rõ, anh ngỡ đèn màu

Rút gươm đâm họng máu trào

Ðể em ở lại, em kiếm thằng nào hơn anh

Bởi vì cha mẹ không ai muốn gả con cho người nơi hải đảo xa xôi:

Cha mẹ đòi ăn cá thu

Gả con xuống biển mù mù tăm tăm.

Chàng từ giả Phú Quốc, trở lại Rạch Giá, rồi xuôi ghe theo kinh Xà No về miệt Cần Thơ.

Tàu số 1 chạy lên Vàm Tấn (là nơi sông Đại Ngải Sóc Trăng chảy ra sông Hậu)

Tàu số 2 chạy xuống Cần Thơ

Tuổi ba mươi em cũng ở vậy mà chờ

Lỡ duyên chịu lỡ, cũng chờ cho được anh

Phần 6: CẦN THƠ – SÓC TRĂNG – BẠC LIÊU CÀ MAU

Theo dòng nước trên kinh Xà No, ghe chàng đi ven rừng U Minh, qua vùng Tắc Cậu nổi danh về khóm, rồi đến Vị Thanh Chương Thiện, Xà No, cuối cùng là Cái Răng của Cần Thơ.

Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Xà No

Anh có thương em, xin sắm một con đò

Để em qua lại mua cò gởi anh

Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Xà No

Có thương em, anh mua cho một chiếc đò

Để em lên xuống thăm dò ý anh!

Xà No do tên Miên “Srok Snor” nghĩa là nơi có nhiều cây điên điển. Còn “Cái Răng” cũng từ tên Miên là “K’ran” là nơi ngày xưa có nhiều ghe người Miên chở lò bếp “cà ràng” của người Miên đến bán. Kinh Xà No đào năm 1901 đến 1903 thì xong, nhờ đó hàng 4-5 chục ngàn ha ruộng được khai khẩn từ suốt Rạch Giá, Vị Thanh đến Cần Thơ, nên Cần Thơ trở nên trù phú, nhà nhà đều dư thừa lúa gạo:

Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Điền

Anh có thương em thì cho bạc cho tiền

Đừng cho lúa gạo xóm giềng cười chê.

Không biết tên “Cần Thơ” có tự thời điểm nào, chỉ biết qua sử sách với các tên Trấn Giang (1739), Vĩnh Định (1814), Phong Phú (1839), còn ngay trung tâm Cần Thơ là xã “Tân An” có đình Tân An được vua Tự Đức sắc phong năm Bính Tý (1876), cũng là năm chữ “Cần Thơ” lần đầu tiên được ghi chính thức trên sắc lệnh hành chánh thành lập “Hạt Cần Thơ” do thống đốc Nam Kỳ Bonard ký ngày 23/2/1876. Về nguồn gốc chữ “Cần Thơ”, chàng nhớ lại là có 2 thuyết. Thuyết thứ nhất kể rằng khi chúa Nguyễn Ánh trên đường bôn tẩu, thuyền ngài lênh đênh trên sông Hậu, trong đêm khuya thanh vắng ngài nghe có tiếng ngâm thơ, đờn địch, hò hát hòa nhau rất nhịp nhàng, từ một khúc sông xa vọng lại. Ngài xúc động và đặt tên con sông nhỏ này là “Cầm Thi Giang”. Cầm Thi được đọc trại thành Cần Thơ. Một truyền thuyết khác nói là khi xưa vùng Cần Thơ có trồng nhiều rau cần và rau thơm. Mỗi khi chèo ghe đi bán trên sông rạch, chủ ghe thường rao: “Ai mua rau cần thơm không”. Rau cần thơm vì vậy đã vào ca dao, và cần thơm đọc trại thành Cần Thơ:

Rau cần rau thơm xanh mướt

Mua mau kẻo hết, chậm bước không còn

Rau cần lại với rau thơm

Phải chăng đất ấy rau thơm có nhiều

N goài lúa gạo, Cần Thơ là miệt vườn phong phú:

Xoài nào ngon bằng xoài Cao Lãnh

Vú sữa nào ngọt bằng vú sữa Cần Thơ

Chiều chiều quạ nói với diều

Ô Môn Bình Thủy có nhiều cá tôm

Cần Thơ gạo trắng nước trong

Ai đi đến đó lòng không muốn về…

Cần Thơ đẹp, có bến Ninh Kiều dập dìu tài tử giai nhân. Vào thời Pháp, mang tên “Le quai de Commerce”, sau mang tên “Bến Lê Lợi” vì nằm trên đường Lê Lợi dọc bờ sông, hay còn gọi là “Bến Hàng Dương” vì nơi công viên trồng nhiều hàng dương cắt tỉa có hình dáng đẹp. Bến Ninh Kiều có ghế đá công viên với nhiều hoa kiểng được khánh thành ngày 4/8/1958, và Cần Thơ xinh đẹp, thơ mộng và trù phú được mệnh danh “Tây Đô” vào đầu thập niên 1960:

Phong Dinh có bến Ninh Kiều

Có dòng sông đẹp có nhiều giai nhân

Cuộc đời luống những phù vân

Trở về bến củ cố nhân xa vời

Cần Thơ có bến Ninh Kiều

Mỗi chiều thứ bảy người nhiều như nêm

Đẹp xinh cảnh sắc về đêm

Nhìn sông thấy nước nhớ thêm tình người

Cần Thơ có bến Ninh Kiều

Có nhiều gái đẹp mỹ miều làm sao!

Đất Cần Thơ có lắm tài tử giai nhân:

Đất Cần Thơ nam thanh nữ tú

Đất Rạch Giá vượn hú chim kêu

Quản chi nắng sớm mưa chiều

Lên doi xuống vịnh cũng chèo thăm em

Cần Thơ đi dễ khó về

Trai đi có vợ gái về có con

Tới đây thì ở lại đây,

Chừng nào bén rễ xanh cây rồi về

Là xứ “Cầm Thi” nên không lạ gì Cần Thơ có nhà thơ Bùi Hửu Nghĩa (1807-1872), còn gọi Thủ Khoa Nghĩa vì ông đậu thủ khoa kỳ thi Hương ở Gia Định năm 1835. Ông quê ở xã Long Tuyền tức Bình Thủy. Long Tuyền là nơi chúa Nguyễn Ánh 4 lần đến trú ẩn trong thời bôn tẩu trốn Tây Sơn. Bùi Hửu Nghĩa là một trong 4 người tài hoa của đất Nam Kỳ Lục Tỉnh:

Đồng Nai có bốn rồng vàng,

Lộc họa, Lễ phú, Sang đàn, Nghĩa thi.

Trong thời gian làm quan, vì là người thanh liêm, cương trực, một lòng vì nước vì dân, không nịnh bợ nên cấp trên không ưa, ông bị giáng chức hai lần. Trong lúc làm quan ở Trà Vinh (1848), vì công lý ông bênh vực người Miên trong vụ tranh chấp với người Hoa ỷ thế lực tiền tài toa rập với tham quan ô lại cứơp quyền khai thác tôm cá ở rạch Láng Thé. Cuộc xô xát làm 8 người Hoa thiệt mạng. Viên Tổng Đốc và Bố Chánh Trà Vinh, vốn ăn hối lộ của người Hoa, ra lệnh bắt hết người Miên chủ chốt, và bắt cả luôn ông dẩn về Gia Định, kết án tử hình, vì cho ông là người xúi dục người Miên làm loạn. Vợ ông là bà Nguyễn Thị Tồn khăn gói ra tận kinh đô Huế, theo lời khuyên của Phan Thanh Giản, bà đến Tam pháp ty gióng trống “kích cổ đăng văn” (đánh trống, đội đơn) kêu oan cho chồng. Nhờ vậy, vua Tự Đức tha tội chết cho ông, nhưng ông bị lột chức làm lính đày lên Châu Đốc.

Cần Thơ là xứ ruộng lúa, nên chim, chuột, rắn, cá rô, lươn nhiều vô kể, nên có nhiều thức ăn đặc sản. Món chuột đồng nổi tiếng với câu vè: “Mắm lòng Châu Đốc, nem nướng Thủ Đức, Giò chả Lai Vung, Cần Thơ chuột đồng”.

Thịt chuột nấu chua lá giang

Chẳng có gì bằng cái thú đồng quê

Rắn hổ nấu cháo đậu xanh

Ăn vô tính nết hiền lành khác xưa

Mần lươn nấu cháo bẹ môn

Bắp chuối trộn ghém chẳng mong về nhà

Cá rô tôm tích chiên xù

Dòn dòn béo béo đi tu không đành

Sau khi thưởng ngoạn Cần Thơ, chàng cho ghe đến Cái Côn trên sông Hậu, rẽ vào kinh dẫn đến Ngã Bảy Phụng Hiệp. “Long” dành cho sông mẹ “Cửu Long”, “Phụng” dành cho các sông con đoàn tụ – “Phụng Hiệp” – nơi 7 con kinh hiệp lại, từ đây ghe thuyền có thể đến bất cứ nơi nào trong Lục Tỉnh, cho tới Cao Miên, hay ra Biển Đông, Biển Tây. Phụng Hiệp vì vậy có chợ nổi lớn nhất, nơi qui tụ của hàng đặc sản khắp vùng. Ghe thuyền rất đông đúc, nhất là lúc “nước đứng” mọi ghe thuyền tạm dừng ở đây để chờ con nước chảy theo thủy triều cho ghe thuyền thuận dòng, đở công chèo chống. Vì vậy nhiều mối tình thơ mộng được chớm nở ở đây:

Gặp em Ngã Bảy hò ơi!

Dòng sông bảy ngả tìm em ngả nào?

Sông ngả bảy chảy về bảy ngả

Thuyền đến đây về ngả nào đây

Buồm không theo kịp chim bay

Xa nhau biết hẹn ngày nào gặp nhau.

Từ Ngã Bảy Phụng Hiệp, chàng theo kinh Maspero đến Sóc Trăng. Đây là vùng “Ba Thắc” hay “Bassac” là tên của vị thần Bàsàk của Miên mà người Việt gọi là “Ông Tà” (thờ ở núi Tà Lơn, Châu Đốc). Sóc Trăng là tiếng đọc trại từ “Srok Tréang” của Miên, có nghĩa là ” Xứ nhiều lau sậy” vì nơi đây là đất giồng duyên hải có lắm lau sậy. Có người cho từ “Srok Kh’leang” có nghĩa là “Xứ kho bạc” vì ở Bải Xàu ngày xưa có một kho bạc. Dầu nguồn gốc nào, chữ Sóc Trăng do người Việt đặt từ lâu, nên vua Minh Mạng đổi thành “Nguyệt Giang”, chữ “Sóc” thành “Giang” (Sông), “Trăng” thành “Nguyệt”. Đây là vùng người Miên, cũng như Trà Vinh, nhiều địa danh mang âm hưởng tiếng Miên. Như “Bải Xàu” (do từ Srok Bai Chau), “Trà Nho” (Chụi Nhua), “Bạc Liêu” (Po Léo), “Trà Cuôn” (Prek Tra Cuon), “Đại Tâm” (Sráiume hay Swaichrume), “Bưng Cóc” (Beng Kok), “Kế Sách” (Ksach), v.v.

Là vùng ven biển, nên thiếu nước ngọt:

Đất Sóc Trăng quê mùa nước mặn

Tôi ra Vàm Tấn chở nước về xài (tức vàm Đại Ngãi với sông Hậu)

Về nhà sau trước không ai

Hỏi ra em đã theo trai mất rồi

Tuy nước mặn đồng chua, Sóc Trăng rất phong phú:

Sóc Trăng nước mặn đồng bằng

Dân lành lúa tốt, của hằng trời cho

Kế Sách, Ba Rinh, Xa Mo

Lắm vườn nhiều ruộng, không lo thất mùa

Bởi vì, Sóc Trăng vừa có ruộng ở đồng thấp nhờ nước sông, lại có ruộng đất giồng gò cao nhờ nước mưa, nên kỹ thuật trồng lúa khác nhau:

Ra đi cha mẹ dặn dò

Ruộng thấp thì cấy, ruộng gò thì gieo

Gạo Ba Thắc nổi tiếng là ngon:

Gặp cơm Ba Thắc thơm ngon

Chan nước mắm Hòn ăn chẳng muốn thôi

Sóc Trăng có nhiều đặc sản:

Ai về thẳng tới Năm Căn

Ghé ăn bánh hỏi Sóc Trăng, Bãi Xàu

Mắm nêm, chuối chát, khế, rau

Tôm càng Đại Ngãi cặp vào khó quên!

Cũng như dân mọi miền Lục Tỉnh khác, người sóc Trăng rất hiếu khách:

Ngó lên trời, mưa sa lác đác

Ngó xuống đất, hạt cát nằm nghiêng

Rượu Ba Xuyên rót đãi người hiền

Trước là đãi bạn, sau giải phiền cho anh.

Rời Sóc Trăng, ghe chàng theo kinh Sóc Trăng đến Bạc Liêu, Cà Mau. Đây là vùng “Miệt Thứ” nước mặn đồng chua, muổi, đĩa, cá sấu, cọp là mối lo sợ ngày xưa. Bạc Liêu phát âm từ “Po Léo”, còn Cà Mau từ “Tuk-Khmâu” nghĩa là “Nước đen”.

Cà Mau là xứ quê mùa,

Muỗi bằng gà mái, cọp tùa bằng trâu. (Tùa, tiếng Triều Châu là lớn)

Em yêu anh nên đành xa xứ,

Xuôi ghe chèo miệt thứ Cà Mau

Má ơi đừng gả con xa

Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu

Từ ngày xa đất Tiền Giang

Em theo anh về xứ Cạnh Đền

Muỗi kêu mà như sáo thổi, đĩa lềnh tựa bánh canh

Chèo ghe sợ sấu cắn chưn,

Xuống bưng sợ đỉa, lên rừng sợ ma.

U Minh, Rạch Giá thị quá sơn trường

Dưới sông sấu lội trên rừng cọp đua.

Tới đây sứ sở lạ lùng

Chim kêu cũng sợ, cá vùng cũng ghê

Muỗi kêu như sáo thổi

Đỉa lội như bánh canh

Cỏ mọc thành tinh

Rắn đồng biết gáy

Rừng thiêng nước độc thú bầy

Muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội đầy như bánh canh

Chiều chiều én liệng trên trời

Rùa bò dưới đất, khỉ ngồi trên cây.

Cà Mau khỉ khọt trên bưng

Dưới sông sấu lội trên rừng cọp um

Rừng U Minh có tiếng muổi nhiều

Sông Bến Hải tiêu điều nước non

Đó là chuyện ngày xưa. Bây giờ thì Bạc Liêu, Cà Mau là vùng ruộng lúa “cò bay thẳng cánh”, là vựa lúa gạo của vùng Lục Tỉnh.

Cần Thơ gạo trắng nước trong

Ai về xứ Bạc thong dong cuộc đời (Bạc = Bạc Liêu)

Bạc Liêu Cà Mau thuộc Trấn Hà Tiên của Mạc Cửu, nên người Triều Châu (Tiều) đến định cư ở đây từ mấy trăm năm, nay thật đông đúc:

Bạc Liêu nước chảy lờ đờ

Dưới sông cá chốt trên bờ Triều Châu.

Qua nhiều đời sống chung Tiều-Việt, nên có lắm câu ca dao song ngữ

Chim kêu Ngồ Ố, Láng Dài

A hia xùa bố a mùi ùm chai

Hia: anh; Mùi: em; Xùa bố: thú thê (cưới vợ); Ùm chai: không hay- tạm dịch như sau:

Chim kêu Ngồ Ố, Láng Dài

Anh cưới vợ rồi em chẳng được hay

hay

Nào khi ến thạo hoang tùa

Sùng hoang, nghệch láo xuất quà thăm em

Ến thạo: lãng thao (sóng cả); Hoang tùa: phong đại (gió lớn); Sùng: thuận, Sùng hoang: thuận phong (thuận gió). Nghệch láo: nghịch trào (chỉ nước ngươc); Xuất quà: đi ra khỏi nhà – tạm dịch là:

Nào khi sóng cả gió to

Thuận buồm, ngược nước rời nhà thăm em.

Người Hoa nắm kinh tế của cả vùng Lục Tỉnh. Từ Cái Răng, Sóc Trăng, Bạc Liêu đến Cà Mau có nhiều chành lúa gạo, tiệm tạp hóa, đều do người Hoa làm chủ. Họ đều là những nhà giàu nứt vách, có nhiều vợ Việt. Nhiều chàng Việt ganh tị:

Tóc mây rủ đất bậu chê

Nâng niu thằng Chệt tứ bề sọ không

Trên đầu nó vận đuôi nhông

Cái răng trắng nhẻ, miệng không nhai trầu

Gẫm trông thằng Chệt mà rầu…

Ngoài lúa gạo, Bạc Liêu Cà Mau là nơi giàu tôm đủ loại:

Đầu lớn chôm bôm, là con tôm tít

Bắt người ăn thịt, là con tôm hùm

Ở bụi ở lùm là con tôm cỏ

Bắt bỏ vào giỏ là con tôm lương

Gánh đất lấp đường là con tôm đất

Vô chùa lạy Phật là con tôm tu

Sóng đánh chổng khu là con tôm cồn

Nấu cơm sồn sồn là con tôm gạo

Lấy nước thơm thảo là con tôm trầm

Bịt chén bịt mâm là con tôm bạc

Phải quấy mình gạt là con tôm càng

Rèn đục rèn chàng là con tôm sắt

Hay cắn hay ngắt là con tôm chồng

Nghe bậu lấy chồng là con tôm lóng

Lấy chồng cho chóng là con tôm lang

Da thịt nó vàng là con tôm nghệ

Việc làm bê trễ là con tôm tít

Rừng U Minh là rừng tiền biển bạc với nhiều tài nguyên thiên nhiên:

Xứ đâu thị tứ bằng xứ Kinh Cùng,

Tràm xanh củi lục anh hùng thiếu chi

Chiếu Cà Mau nhuộm màu tươi thắm

Công tôi cực lắm mưa nắng dãi dầu

Chiếu này anh chẳng bán đâu

Tìm em không gặp, anh gối đầu mỗi đêm.

Sống ở miệt thứ thì không sợ đói:

Lựa là chợ búa kinh kỳ

Ở đồng ở ruộng ăn gì cũng ngon

Sáng thì rau ngổ xào lươn

Trưa thì mắm ruốc cà um ngoài vườn

Cơm chiều kho cá lòng tong

Chấm đọt nhãn lồng bổ óc bổ gan

Thương em vì cá trích ve

Vì rau muống luộc, vì mè trộn măng

Kèo nèo mà đem làm chua

Ăn với cá rán chẳng thua món nào

Lửa than mà nướng cá trèn

Cái mỡ nó chảy láng giềng phải kêu

Theo anh về xứ Bạc Liêu

Ăn cá thay bánh, bàu nghêu thay quà

Rau đắng nấu với cá trê

Ai về Đất Mũi thì “mê” không về!

Ở Cà Mau có một món ăn độc đáo là “chả trứng mực”

Câu mực tuy cực mà vui

Khoái ăn trứng mực, lui cui câu hoài

Bạc Liêu Cà Mau là xứ nước lợ nên là xứ của cá kèo. Vào những con nước rong ngày rằm và mồng một của những tháng giáp Tết, tại các đầu kênh, mặt đập… cá kèo từ biền, trảng, ruộng… lũ lượt đổ xuống và nổi dày mặt kênh, nhìn xuống nước chỉ thấy toàn đầu cá kèo lố nhố – người miệt thứ thường nói “Cá kèo nổi như mù u rụng”. Cá kèo nhiều vô số kể, sống trong hang ở nơi sình lầy, thích vũng trâu nằm, nơi cầm nuôi vịt đàn, đi bộ ngang cá kèo thấy động nhảy vào hang nghe rào rào như ai vãi nắm sạn vào nước. Không ai thấy cá kèo có trứng, người dân cho rằng bùn sinh ra cá kèo. Qua sách vở, chàng biết là cá kèo trưởng thành sống trong hang nơi đồng ruộng trong suốt mùa mưa. Vào đầu mùa nắng, cá kèo theo sông rạch ra biển, sống một thời gian rồi đẻ trứng ngoài biển, nở thành ấu trùng li ti, nước thủy triều mang bọt nước có ấu trùng chảy ngược dòng vào sông rạch rồi ruộng đồng có nước lợ, ấu trùng ăn các phiêu sinh sống quanh rể các loại cây của rừng ngập mặn như vẹt, đước, sú, lớn dần trong các tháng có mưa, đến tháng 9, 10 thì trưởng thành, và bắt đầu ra sông để ra biển cho một chu kỳ sinh sản khác. Thời gian này là lúc cá mập ngon nhất và dễ xúc bắt.

Bồn bồn, bông súng làm chua

Cá kèo kho quẹt thì mua thêm nồi

Cá kèo mà gặp mắm tươi

Như nơi đất khách gặp người cố tri

Cà Mau còn có món đặc sản “mắm ba khía”

Ba khía Cà Mau

Đuông nướng Dầm Dơi

Chàng quyết theo đoàn bắt ba khía vào “ngày hội ba khía” để quan sát nghề bắt ba khía rất cực nhọc. Mắm ba khía Rạch Gốc ở Đất Mũi nổi tiếng là ngon nhất vì ba khía ăn toàn trái mắm. Rạch Gốc nằm trong vùng rừng ngập mặn ở Đất Mũi Cà Mau. Bắt đầu mùa mưa, cây mắm ra trái, trái bắt đầu chín vào tháng 7, rụng vào tháng 8, tháng 9. Đến tháng 10 (âm lịch, tức tháng 11 dương lịch) thì ba khía mập đầy thịt có gạch đầy mai, là mùa ba khía bắt đầu giao phối để sinh sản, cũng là lúc nông dân bắt đầu đi bắt ba khía. Vào nhửng đêm 30, mồng một tháng 10 âm lịch, nước thủy triều dâng cao, như đã hẹn nhau từ thuở nào, triệu triệu ba khía bò ra khỏi hang, leo lên thân cây rừng ngập mặn, bắt cặp, chen chúc nhau, dân gọi là “ngày hội ba khía” chỉ kéo dài vài ba đêm.

Tháng bảy nước chảy Cà Mau

Tháng mười ba khía, hội kéo nhau đi làm

U Minh, Rạch Gốc, rừng tràm

Muỗi kêu kệ muỗi tao ham ba khía rồi

Đừng lo cưới vợ miệt đồng

Ba khía cơm nguội ăn ròng cả năm

Muốn ăn ba khía, ốc len

Thì xuống Rạch Gốc khéo quên đường về

Bây giờ thì chàng đang đứng ở vùng Đất Mũi Cà Mau, nơi cực nam của Tổ quốc. Nhớ lại bài học địa lý giảng dạy ở đầu thế kỷ 20, thì sau khi chiếm hết Nam Kỳ người Pháp chia thành 21 tỉnh:

Gia, Châu, Hà, Rạch, Trà,

Sa, Bến, Long. Tân, Sóc,

Tây, Biên, Chợ, Mỹ, Bà,

Gò, Vĩnh, Thủ, Cần, Phước, Bạc.

Ðó là chữ đầu của 21 tỉnh của Nam Kỳ:

1-Gia Ðịnh, 2- Châu Ðốc, 3-Hà Tiên, 4-Rạch Gíá, 5-Trà Vinh, 6-Sa Ðéc, 7-Bến Tre,

8-Long Xuyên, 9-Tân An, 10-Sóc Trăng, 11-Tây Ninh, 12-Biên Hòa, 13-Chợ Lớn,

14-Mỹ Tho, 15-Bà Rịa, 16-Gò Công, 17-Vĩnh Long, 18-Thủ Dầu Một, 19-Cần Thơ;

20-Phước Tỉnh, và 21-BạcLiêu.

Như vậy chàng đã đi qua 17 tỉnh kể cả quê quán của chàng. Ngồi nghĩ chân tại vùng Đất Mũi, chàng hồi tưởng lại, trong suốt hành trình qua mỗi địa phương, chàng đều đến viếng đền thờ các bậc tiền bối nổi tiếng của Lục Tỉnh, và chàng ngạc nhiên thấy là cuối đời các vị này đều mang nhiều oan ức, phải mất nhiều chục năm sau mới được giải oan: Tả quân Lê Văn Duyệt gốc Cai Lậy, Phan Thanh Giản gốc Bến Tre, Thoại Ngọc Hầu gốc Vĩnh Long, Bùi Hữu Nghĩa gốc Cần Thơ, cả một đời vì nước vì dân mà cuối đời đều bị bạc đải. Suy nghĩ cho cùng, đó là do bản chất thanh liêm chánh trực, không xua nịnh kẻ trên, biết thương yêu đùm bọc kẻ dưới, thừa hưởng tinh thần bất khuất của tổ tiên trong thời nam tiến và tây tiến:

Bước vô trường án, vỗ ván cái rầm

Bủa xua ông Tham biện, chớ bạc tiền ông để ở đâu?

Và lúc nào cũng đấu tranh cho công lý, nên Lục Tỉnh có những “Ông Già Ba Tri”, bà già “Nguyễn Thị Tồn” khăn gói ra tận kinh đô để “khiếu kiện”, “minh oan”.

Trong lúc suy tư, mắt chàng nhìn vào dòng nước biển đục ngầu. Chàng cám tạ dòng sông Cửu Long hiền hòa đã mang nhiều phù sa, chàng cảm ơn cây mắm cây đước của rừng ngập mặn đã chặn giữ phù sa bồi đắp trong suốt hơn 9 ngàn năm qua, để mỗi năm Tổ quốc lấn thêm ra biển hàng trăm mét, bù đắp lại một phần lảnh thổ bị mất trong suốt dòng lịch sử. Nhưng giờ đây rừng ngập mặn bị chính con người tàn phá, và dòng sông Cửu Long cũng đang cạn dần vì những đập nước ở thượng nguồn. Chàng thở dài, ngao ngán. Trong lúc suy nghĩ vẫn vơ, lòng nặng trĩu nỗi ưu tư, giữa cảnh trời nước mênh mông hiu quạnh chàng cất tiếng ngâm:

Nam Quốc Sơn Hà Nam Đế cư

Tuyệt nhiên định phận tại Thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

(Thơ Lý Thường Kiệt)

Cảm tạ: Tôi chân thành cám ơn chồng tôi, Tiến Sỉ Trần-Đăng Hồng, đã góp ý, bổ túc tài liệu cho nội dung được phong phú và đa dạng hơn.

Anh quốc, 6/2009

Nguyễn Thị Kim Thu

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s