Những vấn đề về Tổ chức bộ máy nhà nước, luật Đảng

Những vấn đề về Tổ chức bộ máy nhà nước, luật Đảng
13:11 19 thg 10 2010Công khai0 Lượt xem 0

Luật về Đảng và tính tự chịu trách nhiệm của Chính phủ

Cập nhật lúc 10:15, Thứ Ba, 19/10/2010 (GMT+7)

,

– Thế giới không có ai luật hóa vai trò lãnh đạo của đảng, nhưng tại sao chúng ta lại cần luật hóa? Bởi vì, một đảng không có thể chế đối trọng một cách tự nhiên, là cơ hội dễ dàng cho việc xảy ra tình trạng chuyên chế, độc tài… – Ý kiến của GS. TS Nguyễn Đăng Dung.

LTS: Trong cuộc trò chuyện hôm qua với VietNamNet, nguyên Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc khẳng định: Không có gì phải né tránh luật về Đảng. Hôm nay, VietNamNet tiếp tục giới thiệu ý kiến của ông Nguyễn Đăng Dung, Chủ nhiệm bộ môn Hiến pháp, Khoa Luật, ĐH Quốc gia Hà Nội.

Theo ông Dung, cơ chế chính trị của Việt Nam khác với cơ chế chính trị của các nước, thế giới đa số là đa nguyên, ta là nhất nguyên. Nhất nguyên có cái hay là dễ thống nhất, nhưng bên cạnh đó, Đảng lại dễ rơi vào chủ quan, áp đặt, mà trở thành một lực lượng chuyên chế. Đảng và Nhà nước phải hết sức đề phòng căn bệnh cố hữu này, để luôn xứng đáng với lòng tin yêu như đã và đang có của nhân dân.

Góc nhìn của ông Nguyễn Đăng Dung có thể còn cần phải bàn thảo thêm để làm sáng tỏ vấn đề. Trên tinh thần tôn trọng những ý kiến khác biệt mà Đảng luôn kêu gọi, tôn trọng không khí tranh luận cởi mở, VietNamNet giới thiệu nội dung cuộc trò chuyện này. Mời bạn đọc cùng tranh luận.

Khó cũng phải làm

Ông Dung phân tích:

Phải tăng cường sự tự chịu trách nhiệm của các cán bộ, đảng viên nắm các công việc của Đảng và của nhà nước. Bản thân nhà nước bao giờ cũng phải có đảng lãnh đạo. Đó là đảng cầm quyền. Đảng cầm quyền là đảng nắm hành pháp. Thủ lĩnh của đảng cầm quyền là người đứng đầu cơ quan hành pháp. Vì vậy, khi nói đến nhà nước tức là nói đến đảng và nói đến đảng tất nhiên là nói đến nhà nước.

Ở các nước, nhà nước, tức là chính phủ gắn chặt với sự lãnh đạo của đảng cầm quyền, không có sự phân biệt. Vì vậy, đảng cầm quyền là đảng chiếm đa số ghế ở quốc hội, có quyền thành lập nên chính phủ của đảng mình và quyết định ai sẽ là thủ tướng và các bộ trưởng. Thông qua đó đảng cầm quyền phải chịu trách nhiệm trực tiếp luôn trước nhân dân. Đó là tính chính đáng và tính phải chịu trách nhiệm của họ. Nhưng bên cạnh họ luôn luôn có một lực lượng đảng không cầm quyền, tạo thành một thế lực đối lập, có trách nhiệm sẵn sàng tìm ra những khiếm khuyết của đảng cầm quyền, và thay đảng cầm quyền nắm chính phủ.

Nhưng ở đây, chúng ta phải hiểu Việt Nam là cơ chế một đảng, nhiều lúc chúng ta vẫn cứ than phiền về việc Đảng làm thay nhà nước, cần phải phân biệt giữa sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý nhà nước. Thật là khó. Tôi đã nhiều lần phát biểu rằng không thể phân biệt được. Nhưng sau này nghĩ lại, khó thì cũng phải làm, vì mình là nhất nguyên, phải làm để Đảng của mình không trở nên chuyên chế.

Sự phân biệt giữa đảng và nhà nước làm cho quyền lực chính trị và quyền lực của nhà nước phân ra nhiều người, nhiều tổ chức khác nhau. Vì vậy mà nhiều khi giữa chúng không có sự thống nhất với nhau. Đây cũng là hạn chế cần phải tìm cách khắc phục.

Ép các nguyên tắc vốn dĩ của thể chế đa nguyên vào thể chế nhất nguyên, nhiều lúc, nhiều nơi gây nên sự phản cảm nhất định. Như việc bầu một chỉ giới thiệu một, người đứng đầu đảng phải là người đứng đầu nhà nước/ hành pháp vốn dĩ là nguyên tắc của thể chế đa nguyên, lại đem áp dụng ở nước ta. Nhưng ngược lại, việc tách chúng ra giữa người đứng đầu chính trị và người đứng đầu hành pháp, thì có xảy ra tình trạng tính chịu trách nhiệm bị giảm đi và nhiều lúc đổ lỗi lẫn nhau.

Một số ý kiến cho rằng, đã đến lúc phải luật hóa vai trò lãnh đạo của Đảng. Là một chuyên gia luật, ông nhận định như thế nào về vấn đề này?

Thế giới không có ai luật hóa vai trò lãnh đạo của đảng, nhưng tại sao chúng ta lại cần luật hóa? Bởi vì, thế giới nhiều nước đa đảng. Muốn trở thành đảng cầm quyền thì phải qua lá phiếu của người dân, cho nên người ta không biết đảng nào là đảng cầm quyền để có thể ghi trong Hiến pháp của họ. Một khi đã trở thành đảng cầm quyền thì họ gắn liền với nhà nước luôn như trên đã phân tích, sự chuyên chế, độc tài luôn luôn có một lực lượng kìm chế, thậm chí là túc trực.

Một đảng sẽ dễ xảy ra tình trạng chuyên chế nên cần thiết phải luật hóa để có thể hạn chế sự chuyên chế có thể xảy ra. Luật hóa vai trò lãnh đạo của đảng là một trong những biện pháp cần phải làm đã được nhiều người đề nghị. Đảng chỉ tập trung vào công tác đảng, rèn luyện đảng viên, vận động tuyên truyền đường lối của Đảng để người dân có thể bỏ phiếu cho người của Đảng, trên cơ sở đó mà bố trí nhân sự tốt cho nhà nước.

Dám làm, dám chịu trách nhiệm và dám từ chức

Mối quan hệ lãnh đạo giữa Đảng với các nhánh quyền lực lập pháp – hành pháp – tư pháp và giữa ba nhánh này với nhau phải minh định ra sao để khắc phục hiện tượng song trùng, chồng chéo và thiếu hiệu quả thời gian qua?

Để có dân chủ thì hành pháp, lập pháp, tư pháp phải phân ra và mỗi cơ quan phải có chức năng, thành phần và cách thức hoạt động khác nhau, trên quan điểm là không có cơ quan nào cao hơn cơ quan nào. Thế giới họ nói lập pháp, hành pháp, tư pháp đều là các cơ quan cao nhất của quyền lực nhà nước. Đối với nước mình lại là tập quyền, nhưng vẫn phải có sự phân công phân nhiệm giữa 3 quyền. Bên cạnh đó thì lại quan niệm Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất. Quốc hội không những có quyền giám sát hành pháp mà còn cả giám sát tư pháp. Giám sát tư pháp của Quốc hội là quy định không có ở các nước dân chủ phát triển.

Tư pháp chỉ có được sự độc lập khi và chỉ khi có sự phân công quyền lực. Mục đích của sự phân quyền này là nhằm chống lại sự chuyên chế độc tài. Sự đời không hoàn toàn phân quyền một cách tuyệt đối như vậy. Trong một chừng mực nhất định nào đó, thậm chí nhiều là đằng khác, lập pháp phải thống nhất với hành pháp, lập pháp theo nhu cầu của hành pháp, hành pháp đề xuất các dự án luật, lập pháp thông qua, và tòa án phải xét xử cơ bản theo các đạo luật đã được lập pháp thông qua, đấy là tính thống nhất của quyền lực nhà nước. Nhưng cho dù nhưng vậy, lập pháp vẫn là lập pháp, hành pháp vẫn là hành pháp và tư pháp vẫn là tư pháp.

Trong 3 quyền ấy, hành pháp chính là trung tâm bộ máy nhà nước nguyên nghĩa, có nghĩa là phải chịu trách nhiệm cao nhất. Chính vì thế, đảng cầm quyền luôn luôn phải nắm hành pháp, nắm cái trung tâm của bộ máy nhà nước. Vì sao lại phải thế? Vì hành pháp nắm vật lực, nắm tài nguyên, nắm nhân lực và đặc biệt là điều hành túc trực hàng ngày bộ máy nhà nước. Sự đời rất sòng phẳng, không ai bắt tội người không có quyền lại phải chịu trách nhiệm. Nói Quốc hội là tối cao, vậy Quốc hội có phải chịu trách nhiệm không? Nếu phải chịu thì Quốc hội phải chịu như thế nào, bằng cách nào?

Vì vậy đã lâu rồi người ta đã quay sang sự chịu trách nhiệm của Chính phủ. Đằng sau Chính phủ là đảng cầm quyền, hay nói một cách khác, Chính phủ và đảng cầm quyền về nguyên tắc chỉ là một.

Nữ hoàng Anh được quyền bổ nhiệm Thủ tướng, nhưng Nữ hoàng không thể nào làm khác hơn nếu như người đó không là thủ lĩnh của đảng cầm quyền – đó quy tắc Hiến pháp bất thành văn của nước Anh. Hành pháp cần phải mạnh, phải biết hoạch định các chủ trương chính sách, nhưng làm không khéo hành pháp sẽ rơi vào chuyên chế. Chính vì vậy mà hành pháp phải biết giải trình, phải biết chịu trách nhiệm. Trong trường hợp ngược lại, chính phủ phải từ chức, tức là đảng cầm quyền phải từ chức. Trong mọi thể chế chính trị đều phải có đảng cầm quyền mạnh, có chính phủ mạnh, và phải tổ chức cho đảng cầm quyền/chính phủ dám làm, dám chịu trách nhiệm và dám từ chức.

Ở nước mình phân ra quá nhiều tầng quản lý, nhiều tổ chức cơ quan phụ trách giữa đảng và nhà nước, vì vậy mà tính tự chịu trách nhiệm bị phân tán ra quá nhiều nơi. Lúc làm tốt ông bảo của ông, nhưng khi không tốt thì ông lại bảo không phải của ông ấy mà do Đảng lãnh đạo. Đây cũng là điều gây khó khăn cho việc truy cứu trách nhiệm ở Việt Nam, cộng với văn hóa không từ chức, càng làm tăng thêm sự khó khăn của vấn đề.

Theo tôi, không có cách nào khác ngoài việc phải trao tính tự chịu trách nhiệm nhiều hơn nữa cho Chính phủ, cho Thủ tướng, cho các bộ trưởng, để họ phải chịu trách nhiệm hơn, không thể đổ lỗi cho ai được. Trong trường hợp không làm được, tức là không chịu trách nhiệm được, thì phải từ chức. Chuyện lên, rồi lại xuống là một chuyện bình thường.

Trần Đông
‘Không có gì phải né tránh luật về Đảng’

Cập nhật lúc 07:16, Thứ Hai, 18/10/2010 (GMT+7)

,

– Chính vị trí cầm quyền của Đảng đòi hỏi sự lãnh đạo của Đảng phải được thể chế hóa thành pháp luật. Làm trái đi là xúc phạm đến sự lãnh đạo của Đảng và thể chế của nhà nước – nguyên Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc.

LTS: Để đảm bảo dân chủ, mọi việc Đảng làm dân phải được biết, Đảng cũng phải hoạt động theo pháp luật. Điều lệ Đảng đã khẳng định, mọi tổ chức của Đảng đều hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật. Khẳng định như vậy nhưng sự lãnh đạo của Đảng lại chưa được thể chế hóa thành luật, cấp ủy đảng dường như đang được hoạt động tự do. Đây là ý kiến của nguyên Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc trong cuộc trò chuyện với VietNamNet, góp ý cho dự thảo các văn kiện Đại hội Đảng XI.

Góc nhìn của ông Nguyễn Đình Lộc có thể còn cần phải tranh luận, bàn thảo thêm để làm sáng tỏ vấn đề. Trên tinh thần tôn trọng những ý kiến khác biệt mà Đảng luôn kêu gọi, tôn trọng không khí tranh luận cởi mở, VietNamNet giới thiệu nội dung cuộc trò chuyện này. Mời bạn đọc cùng tranh luận.

Họp chi bộ khu phố có bàn thảo gì đâu

Trong bàn tròn nhân 65 năm Quốc khánh, ông đã bàn nhiều về dân chủ, theo nghĩa là mọi người dân đều phải được hưởng quyền làm chủ. Nói về dân chủ trong Đảng, đang có chủ trương mở rộng và phát huy dân chủ trong Đảng bằng việc thực hiện thí điểm ĐH Đảng bầu trực tiếp bí thư, đã qua cấp cơ sở, quận/huyện, giờ là tỉnh/thành. Theo ông, như vậy đã là dân chủ đủ chưa?

Ban Tổ chức Trung ương cũng đang chuẩn bị phương án bầu trực tiếp Tổng bí thư trong ĐH Đảng XI, nghĩa là đang từng bước mở rộng dân chủ.

Như tôi đã từng nói, nhận thức về dân chủ là cả quá trình, không ai có thể tự nói rằng mình đã nhận thức đầy đủ, có một quan niệm rõ ràng về dân chủ. Dân chủ cũng là thói quen, nếp sinh hoạt, không phải dễ dàng mà thực hiện dân chủ, nhất là với những người đang có quyền. Nói đến dân chủ tức là quyền bình đẳng, cấp dưới cũng có thể “đụng chạm” đến anh, nên người có quyền sẽ dễ thấy bị đụng chạm và “e ngại” dân chủ.

Có một thực tế là dường như chính các Đảng viên cũng “ngại” dùng đến quyền dân chủ của mình. Chẳng hạn, rất ít trường hợp các đảng viên chủ động giới thiệu thêm người ra ứng cử vào ban chấp hành, chưa nói đến chuyện tự ứng cử, hay ứng cử cho chức vụ Bí thư? Ngay trong lá phiều bầu cũng nhiều khi thể hiện sự e ngại, bí thư thường được bầu với số phiếu rất cao, nhiều trường hợp cao hơn rất nhiều số phiếu bầu chính người đó vào ban chấp hành? Vì sao lại thế?

Vì ai cũng hiểu những người trong cấp ủy có quyền, bí thư là người có quyền lớn nhất, điều này chi phối hành động của các đảng viên. Nếu mình ứng cử thêm ai vào để “so” với bí thư, sau này dễ phiền phức. Vậy nên các đảng viên đến dự đại hội vẫn chủ yếu phụ thuộc vào danh sách đề cử của cấp ủy khóa trước, trong khi lẽ ra dân chủ phải do ứng cử là chính.

Ngay như chuyện họp chi bộ cũng thế. Tôi về hưu, họp chi bộ ở khu phố, ra họp cũng chủ yếu để nghe phổ biến chứ có bàn thảo gì đâu, ai đó đã quyết định hết rồi. Chúng tôi cũng thấy trong Đảng như thế là chưa dân chủ. Phải thay đổi phương thức sinh hoạt lâu nay.

Hình như tâm lý của ta chưa quen với dân chủ. Ở các nước như thế không ai chịu được, còn ta thì quen rồi, nên tất cả đều chấp nhận, xem đó là bình thường. Mới thấy qua xã hội dân chủ là rất quý, vì rèn cho con người ta biết thực hành dân chủ.

Cứ “bình bình” thì không thể kỳ vọng gì

Với cách làm như hiện nay, khi ta đang từng bước thực hành dân chủ, làm sao chọn được những người đứng đầu ở tầm lãnh tụ để dẫn dắt dân tộc?

Ta đang từng bước tiến hành dân chủ, làm sao có được người như thế thì rất khó. Phải quyết liệt thay đổi cách làm, nhưng chúng ta có thật sự muốn không? Ta sẽ đi đến đâu? Ta có chấp nhận cứ tiếp tục “bình bình” thế này không? Sắp đến là bầu cử Quốc hội, bầu cử Hội đồng Nhân dân, kể cả Đại hội Đảng cũng đã đến ĐH tỉnh/thành rồi, chưa thấy có biến chuyển gì lớn.

Tình hình như thế này thì không thể đột phá, mọi sinh hoạt vẫn theo cách cũ, hy vọng ngay điều gì là rất khó. Cương lĩnh chẳng sửa nhiều, đúng hơn là có sửa nhưng không cơ bản. Rồi những gương mặt có khả năng thành người đứng đầu, không biết có ai ấp ủ gì không, còn nếu nhìn những gì bộc lộ ra ngoài thì chưa thể kỳ vọng gì lớn ở ĐH này.

Chúng ta vẫn đang hiểu Đảng là Đảng lãnh đạo, chứ không phải Đảng cầm quyền như Bác Hồ đã nhấn mạnh trong di chúc của Người. Cần nhớ rằng Đảng cầm quyền là một khái niệm rất phổ biến trên thế giới. Với các nước đa đảng thì mỗi nhiệm kỳ có thể là một đảng khác nhau cầm quyền. Còn ta là một Đảng cầm quyền, vị thế này đã được ghi rõ ràng trong Hiến pháp.

Ông có thể giải thích rõ sự khác nhau giữa Đảng lãnh đạo và Đảng cầm quyền, theo nhận thức của ông?

Theo tôi, khi nói đến Đảng cầm quyền, thì đó là quyền của dân, và dân trao cho Đảng. Đảng không phải đơn vị sản xuất, Đảng là tổ chức lãnh đạo, nghĩa là mọi hoạt động của Đảng đều động chạm đến quyền lực của nhân dân. Vì thế, để đảm bảo dân chủ, mọi việc Đảng làm thì dân phải được biết, Đảng cũng phải hoạt động theo pháp luật. Điều lệ Đảng đã khẳng định, mọi tổ chức của Đảng đều hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật. Khẳng định như vậy nhưng sự lãnh đạo của Đảng lại chưa được thể chế hóa thành luật, cấp ủy đảng dường như đang được hoạt động tự do. Vấn đề này nhiều người cũng đã nêu ra.

Vì sao lại thế?

Những người lâu nay không có gì ràng buộc, nay thấy mình bị ràng buộc phải pháp luật thì cảm thấy không thoải mái, thấy có gì đó không bình thường. Vấn đề là không quen nên cảm thấy bị đụng chạm.

Nếu hiểu cho đúng, những quy định của pháp luật là để tạo cho mỗi người một khuôn khổ, khuôn khổ đó cần và đủ cho anh thực hiện quyền của anh, làm nhiệm vụ của anh. Đó không phải sự hạn chế mà rất cần thiết cho con người, để anh có thể thực hiện quyền của anh mà không đụng chạm đến quyền của người khác. Như tôi đã nói, một người hưởng dân chủ mà hưởng một cách quá đà sẽ phạm vào dân chủ của người khác, thậm chí cướp quyền dân chủ của người khác.

Điều lệ không thể cao hơn pháp luật

Ta đã có Điều lệ Đảng, mọi đảng viên đều phải tuân theo…

Đúng là Đảng có điều lệ Đảng, theo tôi hiểu thì nhiều lần ĐH có sửa đổi điều lệ Đảng, nghĩa là việc áp dụng điều lệ đó cũng có những vướng mắc nên phải sửa đổi. Nhưng điều lệ chỉ là việc riêng của Đảng, việc tổ chức của Đảng.

Trước đây ta chưa biết đến khái niệm pháp quyền. Đảng trước đây hoạt động bí mật rồi ra công khai, nhờ có Đảng mới giành được chính quyền nên nên toàn dân đều tin Đảng. Còn hiện nay, trong xã hội dân chủ, nhất là ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền, thì cao nhất là pháp luật, điều lệ không thể cao hơn pháp luật.

Trong cơ chế thị trường, rất dễ động chạm đến lợi ích. Nếu không rạch ròi, sòng phẳng, thì có thể có sai lầm. Chính vị trí cầm quyền của Đảng đòi hỏi sự lãnh đạo của Đảng phải được thể chế hóa thành pháp luật, để dân còn biết mà làm theo. Nếu làm trái đi là xúc phạm đến sự lãnh đạo của Đảng, xúc phạm đến thể chế của nhà nước. Nếu nhận thức như thế, sẽ thấy việc luật hóa quyền lãnh đạo của Đảng là rất cần thiết, và không có gì phải né tránh cả. Đảng cầm quyền phải được thể chế hóa bằng pháp luật, nhất là trong điều kiện là Đảng cầm quyền duy nhất.

Đảng đã có điều lệ thì có thể thể chế hóa điều lệ đó để thành luật. Mọi tổ chức của Đảng, từ Bộ Chính trị là cấp cao nhất đến cấp ủy cơ sở đều phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Tôi nhắc lại là điều này đã được điều lệ Đảng khẳng định rồi.

Ranh giới quyền hạn

Nghĩa là mọi đảng viên đều thuộc đối tượng, phạm vi điều chỉnh của luật?

Luật sẽ thể chế hóa phương thức lãnh đạo của Đảng. Những đảng viên bình thường, vì thế, sẽ không phải là đối tượng điều chỉnh của luật. Đối tượng của luật là các cấp ủy, là cấp lãnh đạo. Như ở một xã thì bí thư đảng ủy xã là người lãnh đạo, thì phải lãnh đạo như thế nào? Pháp luật đương nhiên không hạn chế ông, nhưng chỉ rõ cho ông và cả mọi người dân trong xã biết ông được làm những gì, ông sẽ lãnh đạo như thế nào.

Mời bạn đọc gửi góp ý cho các dự thảo văn kiện của Đảng về địa chỉ banchinhtri@vietnamnet.vn

Trong luật cũng sẽ phân định rõ mọi quan hệ giữa Đảng với Nhà nước, với Chính phủ (hành pháp), Quốc hội (lập pháp) và Tòa án (tư pháp). Bộ Chính trị đã có nghị quyết bảo đảm sự độc lập của Tòa án, nhưng cần phải thể chế hóa thành pháp luật, còn không thì chỉ là sự độc lập nói chung, trên nguyên tắc.

Chính Đảng phải thật sự gương mẫu trong việc tuân thủ pháp luật, để “lôi kéo” quần chúng đi theo mình. Bản thân Đảng cũng phải cảnh giác, vì mỗi người đều có thể mắc sai lầm, không nên nghĩ mọi quyết định, chủ trương đề ra của Đảng đều đúng trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Chẳng hạn, ta có Ban quản trị tài chính quyết định những vấn đề tài chính, kinh tế, quyền lợi liên quan đến hệ thống Đảng. Như thế có đúng không? Tiền thuế của dân đóng góp, Đảng có thể chi tiêu tùy ý không?

Chính pháp luật sẽ giúp Đảng biết đâu là ranh giới của quyền hạn.

Chính pháp luật cũng khiến dân có thể giám sát dễ hơn, và như thế sẽ tin Đảng hơn. Cần lưu ý là không điều gì qua được mắt dân. Dân biết hết, nhiều điều dân không chấp nhận, nhưng dân không dám phản ứng công khai. Chính những sự không minh bạch, công khai khiến niềm tin của dân với Đảng dễ lung lay. Mà niềm tin của dân là vấn đề sống còn của Đảng, nếu không cảnh giác thì sẽ mất niềm tin đó.

Khánh Linh

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s