LUẬT NHÀ NƯỚC BỒI THƯỜNG: Quá chậm! (Entry for November 10, 2008)

Pháp luật TP.HCM thân thương ơi, sao không khai thác sâu hơn đề tài sở trường này?:

LUẬT NHÀ NƯỚC BỒI THƯỜNG: Quá chậm!

Gần 35 năm thống nhất đất nước, 22 năm đổi mới, mọi người mới được chứng kiến một dự án luật hết sức quan trọng trình Quốc hội thảo luận, mà đúng ra nó cần phải được ra đời từ lâu (chính xác phải là từ đầu, khi chính phủ mới thành lập). Tầm quan trọng của nó ảnh hưởng đến uy tín, vị thế của cả chế độ và quyền công dân. Đó là dự án “Luật bồi thường nhà nước”.

Tại sao nó lại quan trọng như vậy? Rất đơn giản, nó là xương sống về sự đòi hỏi hiệu quả cho các quy chuẩn hành vi do nhà nước đặt ra và thực thi. Nôm na là nhờ nó mà các quy định của pháp luật được thi hành một cách thượng tôn hơn, không bị người dân coi thường và quan viên khinh nhờn!

Vậy sao bây giờ nó mới được đem ra Nghị trường? Có phải do điều kiện đất nước, cụ thể là nhà nước, còn khó khăn, đội ngũ cán bộ mới trải qua chiến tranh, có công nên chưa quan trọng lắm trong việc xử lý việc làm sai phải bồi thường? Hay do trình độ cán bộ còn hạn chế; do pháp luật xây dựng không được ổn định, thiếu chặt chẽ… nên vấn đề bồi thường của nhà nước cần phải chậm lại? Mặt khác, phải chăng nhà nước còn phải lo bao nhiêu việc sau khi mới thóat ra khỏi tình trạng chiến tranh và bao cấp trì trệ, nên phải lo việc khác quan trọng hơn như: xây dựng đội ngũ, bộ máy, các vấn đề trọng yếu của nền kinh tế, chính trị, văn hóa… nên việc bồi thường cần phải chậm lại. Việc chậm trễ đó hầu mong dùng kinh phí bồi thường để giải quyết các việc cấp bách khác ở trên và khác nữa như chống bão lụt, xây dựng nhà tình thương…Sai lầm!

Về mặt lý luận, người ta nói rằng quyền lực của nhà nước mà nhiều thì chắc chắn quyền lợi của người dân sẽ bị hạn chế, thậm chí bị triệt tiêu. Quyền công dân bị hạn chế chính là nguồn gốc của mọi sự trì trệ cả vật chất lẫn tinh thần, và ảnh hưởng chính đến an nguy cho sự vững chắc và uy tín của chế độ.

Cũng vì vậy, ngay từ đầu, Quốc hội lập hiến của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa thông qua bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946, đã rất coi trọng vấn đề này. Ở đó, hầu hết các quy định đều nhằm mục đích cương tỏa, hạn chế quyền lực công của nhà nước để nâng cao “chất lượng” quyền lợi người dân. Ở đó, các quyền cơ bản của công dân không phải chỉ là hô khẩu hiệu… Các nhà lập hiến trước đây đã nghiên cứu rất kỹ, thấy rất rõ rằng luật pháp do nhà nước đặt ra và tổ chức thực hiện thì sự lạm quyền, nhũng nhiễu (vô tình hay hữu ý) xảy ra dễ dàng không phải ai khác mà chính là ở quan viên nhà nước. Vì vậy mới có quy định hành vi công vụ sai thì phải bồi thường. Nhưng, khổ nỗi, bồi thường cụ thể như thế nào, trách nhiệm tổ chức bồi thường ra sao… thì… nay mới bàn! Quá chậm, nhưng dù sao có cũng còn hơn không.

Cách đây chưa đầy một năm, tôi từng chứng kiến và gỡ rối một vụ mà UBND TP.HCM ra quyết định sai hòan tòan, gây thiệt hại cho gần chục hộ dân với số tiền lên đến hàng chục tỷ đồng. Đó là vụ UB.TPHCM ra quyết định tịch thu tám chiếc xà lan, xáng cạp đang thi công nạo vét công trình Cảng Cát Lái mở rộng. Sau hơn một năm thu giữ tám phương tiện ấy, tòa tuyên bác quyết định, trả lại cho khổ chủ. Tính ra, riêng thiệt hại về thu nhập cho người dân bị tịch thu oan ấy là không dưới chục tỷ đồng, chưa nói đến việc hư hỏng máy móc phải sửa chữa. Điều đáng nói là trước đó, đội ngũ kiểm tra và tham mưu cho UBND TP.HCM ra quyết định (thuộc Sở TN và MT) đã tổ chức rất nhiều cuộc họp giải quyết, mà ở đó không ít người dân khóc xin, than vãn về hòan cảnh, sau đó chuyển sang “cãi” về luật làm cho các vị cán bộ Sở đuối lý. Nhưng họ vẫn không chịu trả! Cho đến khi án có hiệu lực, người dân phải chạy hết Thi hành án, rồi sang UBND TP, sang Sở TN và MT… hết sức vất vả thì mới được trả. Đáng nói hơn là bà trưởng phòng của Sở TN-MT, nhân vật chính trong vụ kiểm tra, tham mưu ra quyết định tịch thu, còn có thái độ hết sức hách dịch. Khi trả xà lan, bà kiểm tra, bắt bẻ từng giấy tờ một với “phong cách bề trên”, còn thách rằng: “Tại mấy ông tòa mới như thế này chứ với tôi thì… Lương tôi có ít, nếu người dân có kiện bồi thường mà tôi không có thì thôi chứ làm gì?…”.

Cán bộ cấp trưởng phòng của một sở lớn thuộc thành phố phát triển nhất nước, với đủ lọai phương tiện truyền thông, mà làm sai lại còn có thái độ như thế đấy! Đúng ra, như trong vụ này, cán bộ đã gây thiệt hại lớn cho người dân, đã làm phương hại lớn cho uy tín của nhà nước như thế thì không những bị đuổi việc, phải bồi thường mà còn phải bị khởi tố (tội gì thì chắc BLHS đã có quy định). Đằng này, hình như bà ta không bị sao…

“Không thể dung túng mãi bộ máy kém cõi gây thiệt hại, làm giảm lòng tin của người dân đối với nhà nước mà không hề chịu trách nhiệm, không hề bị xử lý”. Đại biểu Quốc hội Lê Văn Cuông (Thanh Hóa) thẳng thắn.

Đúng là như thế! Mọi chính sách và quy định pháp luật về đủ thứ ngành nghề, sự vụ đều có thể bị vô hiệu hóa, bị xem thường bởi đầu tiên là những cán bộ vô tâm hoặc kém năng lực. Cả hai đối tượng này đều không nên có mặt trong đội ngũ công chức cao quý của một đất nước đã thống nhất. Nếu cán bộ vẫn được hưởng lương, hưởng các quyền lợi chính trị và kèm theo là những bổng lộc do vị trí cán bộ của mình đem lại, mà chẳng phải chịu trách nhiệm cụ thể nào (quá đáng lắm thì mới bị xử lý hình sự) thì người ta dù không hòan thành nhiệm vụ phục vụ nhân dân, mà vẫn không chịu rời vị trí là hòan tòan dễ hiểu. Đây cũng là một nguyên nhân giải thích tại sao bộ máy nhà nước vẫn cồng kềnh, kém hiệu quả (không giảm được, thậm chí càng tăng).

Tôi chắc chắn rằng tới đây Luật Bồi thường nhà nước (hay Luật Nhà nước phải bồi thường) được thông qua và có hiệu lực thì biên chế nhà nước sẽ tự động giảm không ít. Và chắc chắn hơn, tin tưởng hơn rằng bộ máy nhà nước sẽ hiệu quả hơn nhiều, sẽ lấy lại được niềm tin hơn trong nhân dân. Tất nhiên, để đạt được hiệu quả của cả hệ thống thì cần phải có một hệ thống pháp luật đồng bộ kèm theo như quy định về xã hội dân sự (để giảm việc cho quản lý nhà nước bằng mô hình tự điều tiết của xã hội) hay quy định viên chức nhà nước là viên chức hành chính chuyên nghiệp chứ không phải là những cán bộ chính trị…

Người ta có thể tính được rằng với 10 năm thực hiện Nghị định 47 về Bồi thường thiệt hại do công chức, cán bộ tố tụng gây ra, thì tám bộ và 37 tỉnh, thành phải bồi thường có 16 tỷ đồng nhưng không thể nào tính hết con số thiệt hại hữu hình và tác hại vô hình do số cán bộ này gây ra.

Có một tư duy cần lưu tâm là luật pháp cần chú trọng bảo vệ dân nghèo, còn người giàu thì cũng cần quan tâm nhưng ít hơn do họ có đủ điều kiện và kinh nghiệm lẫn quan hệ rộng nên dễ dàng vận động chính sách có lợi cho mình hơn. Với hành vi sai phạm của công chức phải bồi thường 16 tỷ đồng trong 10 năm qua đó, bao nhiêu gia đình tan nát? Bao nhiều hộ dân trong hơn 50 triệu nông dân bị mất đất oan? Bao nhiêu cơ hội kinh doanh và thăng tiến bị bỏ lỡ? Nhà nước “mất điểm” trong người dân thế nào?… Đó là chưa kể hàng lọat hành vi chưa bị xem xét bồi thường do chưa có luật!

Còn công chức thì cần phải đãi ngộ cao nhưng phải đòi hỏi lớn cả về tâm và năng lực. Sự đãi ngộ và đòi hỏi đó rõ ràng không phải là vận động tự giác mà bằng chính sách và pháp luật cụ thể, như: Luật công chức; luật Nhà nước bồi thường…

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s