“Giáo dục phải đổi mới tư duy quản lý…!”Entry for August 17, 2008

Khi Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Thiện Nhân lên làm Phó Thủ tướng, đầu tháng 8-2007 BBC đưa tin, có thể ông PGS-TS Phan Thanh Bình (Giám đốc Đại học Quốc gia TP.HCM) sẽ được đề bạt làm Bộ trưởng. Tam Mao đã có buổi phỏng vấn ông Phan Thanh Bình đề cập đến khá nhiều vấn đề về giáo dục. Có khá nhiều vấn đề về giáo dục đã được ông Phan Thanh Bình “nhìn thẳng vào sự thật”. Tuy nhiên, bài viết này đã không được đăng trên Pháp luật TP.HCM do ông Bình đề nghị vì: “Vấn đề này lớn quá…” (mặc dù Tam Mao đã cố gắng “gọt” một số vấn đề “sắc cạnh”). Xin giới thiệu lên blog Tam Mao, nhưng đề nghị mọi người chỉ đọc, tham khảo thôi, vì bài này không được người trả lời phỏng vấn cho đăng báo…

“Giáo dục phải đổi mới tư duy quản lý…!”

Chap: Cần tôn trọng sự tự chủ của các trường đại học; giảm lý thuyết; kiểm định chất lượng giáo dục; bỏ thi đại học và quan trọng là đổi mới tư duy quản lý giáo dục… là những chia sẻ của PGS-TS Phan Thanh Bình.

(St) Trường học cần tự chủ

– Thưa ông, gần đây, nhiều học giả cho rằng nhà nước cần trả lại sự tự chủ cho các trường, cho giáo viên và cả người học?

+ Theo tôi, dùng từ “trả lại” không chuẩn xác lắm! Vậy hóa ra nhà quản lý lấy mất sự tự chủ của các trường và bây giờ phải trả lại. Thực tế, sự tự chủ đã có và chúng ta cần phải tôn trọng hơn, đặc biệt đối với giáo dục đại học. Vì đại học cung cấp kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp nên bản thân giáo viên phải chủ động về kiến thức và phương pháp truyền đạt. Khả năng sáng tạo phụ thuộc nhiều phương pháp tư duy độc lập, nó được truyền từ người thầy qua. Muốn vậy thì phải có cơ chế cho phép người thầy độc lập, sáng tạo. Quản lý nhà nước chỉ nên tạo hành lang pháp lý, định hướng chiến lược phát triển vì “quản” sát quá, ôm đồm quá sẽ thành ra cản trở!

– Tại sao ông nói cần “đặc biệt tôn trọng sự tự chủ của giáo dục đại học” mà không phải cả các cấp học phổ thông, mầm non?

+ Người thầy trong đại học khác so với phổ thông, vỡ lòng. Họ không thể cầm tay chỉ việc rập khuôn cho học trò. Giáo dục phổ thông là kiến thức chuẩn nên cần giống nhau, không cần khác biệt quá lớn. Giáo dục đại học thì khác, chỉ tạo ra nền tảng, còn lại là kích thích sự sáng tạo cho người học.

– Vậy là hình như chúng ta đang “làm ngược”? Cụ thể, thay vì đại học cần khác biệt thì lại đang “đổ đồng, bình quân”. Ngược lại, giáo dục phổ thông cần “phổ thông” thì lại tạo sự khác biệt “trường chuyên, lớp chọn…”, làm cho phụ huynh, học sinh phải “chạy chọt”, ngay cả từ bậc học mầm non?

+ Đúng, nhưng cũng khó cho các nhà quản lý giáo dục là do không đủ điều kiện xây dựng trường lớp tốt một lúc nên mới làm ở từng trường một. Cấp học phổ thông ở nước nào cũng có sự so sánh trường lớp nhưng nước ngòai thì tự mỗi trường xây dựng danh tiếng, tự phát triển chứ không có sự can thiệp của quản lý nhà nước. Họ đánh giá chính xác, khách quan để làm định hướng cho người học về sau, cả trong việc học tiếp hoặc bước vào nghề nghiệp.

– Theo ông muốn tự chủ, năng động cần chú trọng điều gì?

Tài chính – Chương trình đào tạo – Con người. Cơ sở đào tạo phải tự biết cần bao nhiêu tiền và tạo ra tiền bằng cách nào; phải chủ động truyền đạt bằng phương pháp, chương trình gì và tự biết sẽ cần những con người nào (?!). Giáo dục chúng ta còn nhiều ràng buộc, như: giờ giấc, giáo trình, chương trình học thống nhất… Hạn chế như vậy làm cho thầy giáo và người học rập khuôn. Sản phẩm giáo dục ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển xã hội nên hạn chế đồng nghĩa với sự thiếu sáng tạo, níu kéo phát triển. Nói đúng ra, chúng ta chưa đủ tự tin để giao quyền và nghĩa vụ cho cơ sở nên họ cảm thấy gò bó…

– Ông nghĩ gì khi nhiều nước nghèo vẫn miễn học phí cho học sinh phổ thông, còn ta thì có đề án tăng học phí “ầm ĩ” như vừa qua?

+ Về chủ trương, chúng ta miễn học phí đến hết lớp 9 vì đất nước chúng ta còn nghèo nên ngân sách chưa cáng đáng nỗi việc miễn học phí đến THPT. Nhưng vấn đề, như chia sẻ của nguyên Bộ trưởng Trần Hồng Quân mới đây, là phải tính đến “kinh phí” đào tạo. Vì, ngòai học phí thì người học còn có nhu cầu thiết yếu và rất nhiều chi phí khác: sách vở, tiền ngọai khóa, xây dựng trường…

(St) “Đầu to” nhưng khó hành nghề!

– Nhiều người nói sản phẩm giáo dục của ta mang nặng lý thuyết suông, thưa ông?

+ Thường, hệ thống giáo dục đại học được tách ra hai loại: Lọai đào tạo để người học ra làm nghề, tức là theo hướng đào tạo nguồn nhân lực và lọai đào tạo chỉ để làm nghiên cứu. Chúng ta còn lý thuyết là tại chưa thống nhất được trường nào đào tạo nghiên cứu, trường nào đào tạo nguồn nhân lực. Chúng ta vẫn đào tạo như thời cha ông: rất bác học theo kiểu “Võng anh đi trước, lọng nàng theo sau”, ra trường mang theo “cái đầu rất to”, suy nghĩ thì “trên trời”, nhưng hành nghề… rất khó! Chúng ta cần thay đổi tư duy quản lý. Ở nước ngòai, bằng cấp do trường cấp nhưng chứng nhận đủ điều kiện hành nghề do hội nghề nghiệp cấp. Luật sư, nhà báo, kỹ sư, kiến trúc sư… đều cần vậy cả. Hội nghề nghiệp thẩm định là điều mới mẻ trong đào tạo, sử dụng, quản lý ở ta…

– Theo ông, nguyên nhân hạn chế nào làm cho giáo dục của ta đi vào lối mòn tri thức?

+ Chúng ta đi ra từ chiến tranh với điều kiện kinh tế nông nghiệp lạc hậu. Từ quy mô đào tạo nhỏ, sinh viên ít sang quy mô lớn mà cách quản lý chưa thay đổi được. Giống như người nông dân chuyển từ thâm canh sang quảng canh nhưng chưa đổi được thói quen, quán tính. Thay đổi cần có lộ trình, nhưng phải tính làm sao cho đừng nhanh quá mà cũng đừng chậm quá. Những năm 80 thế kỷ trước, chúng ta làm hơi nhanh như: mở hàng lọat trường dân lập; cho học theo tín chỉ; cho trường tự bầu hiệu trưởng… làm chao đảo cả hệ thống giáo dục. Sau đó thì “siết” chặt quá đâm ra lúng túng…

– Nhưng, đổ thừa cho hòan cảnh chiến tranh để biện minh cho sự yếu kém cũng không phải là việc nên làm. Nhiều người cho rằng nguyên nhân chính là giáo dục của ta chưa gắn với thị trường, thưa ông?

+ Đúng! Nhưng phải thấy rằng giáo dục các nước tiên tiến dễ dàng hơn vì họ nhiều tiền. Nói gì thì nói chứ ít tiền cũng khó làm hơn. Làm sao mà “gói ghém” được khi kinh phí đào tạo đại học cho một sinh viên ở ta chưa bằng 1/15 các nước tiên tiến (?!). Bên cạnh đó, họ có sự đồng bộ của các dịch vụ như: Bảo hiểm, ngân hàng… Ngòai chính sách học bổng, học sinh nghèo có thể được vay gần đủ kinh phí để học nên người học có trách nhiệm hơn. Doanh nghiệp nếu phục vụ các họat động của trường như cho sinh viên thực tập thì được giảm thuế; doanh nghiệp phải trả tiền cho trường để tuyển dụng người có năng lực… Chúng ta chưa phát triển đồng bộ như vậy nên vẫn lúng túng.

– Gần đây người ta nói đến khái niệm kiểm định giáo dục, ông có thể nói rõ hơn?

+ Trước đến nay, chúng ta lấy mệnh lệnh hành chính để quản lý thì tới đây cần lấy chất lượng làm đầu. Chất lượng đó được “đo, đếm” theo một tiêu chuẩn nhất định. Chẳng hạn theo tiêu chuẩn Hòa Kỳ hay của Châu Á… Khi có kiểm định theo tiêu chuẩn quốc tế thì người ta có thể liên thông đào tạo giữa các nước. Kiểm định xong mình mới biết mình ở đâu để không quá tự ti mà cũng không quá tự cao. Hiện nay, chắc chắn rằng giáo dục của ta còn có vị trí rất thấp nên phải phấn đấu, đến 2020 mới có một trường đại học lọt vào top 200 của thế giới…

– Một nguyên nhân khác làm chất lượng giáo dục yếu là do quá tải cả trường lớp, giáo viên và chương trình?

+ Hàng năm có 1,2 triệu thí sinh thi đại học. Các trường “gồng mình” lắm cũng chỉ nhận được khỏang 150 ngàn. Số liệu này cho thấy sự sự quá tải, lảng phí thế nào. Nguyên nhân là hệ cao đẳng, trung cấp, dạy nghề của mình làm chưa tốt và do không cho liên thông lên Đại học. Học tại chức bị đánh giá thấp hơn… Do không có kiểm định chất lượng giáo dục nên bằng cấp của các hệ đào tạo bị nghi ngờ. “Đào tạo thường xuyên” (tại chức) thì các nước rất khuyến khích và thường sinh viên hệ này có thực tế nên giỏi hơn không ít sinh viên từ phổ thông ra… Thầy cô giáo quá tải ở trường đã đành, lại còn phải “chạy sô” luyện thi, dạy kèm. Chương trình thì quá tải lý thuyết, thiếu thực hành, thực tế. Chúng phải giảm tải thôi vì công dân của mình cũng giống các nước, người ta học ít lý thuyết thì mình cũng học ít…

(St) Sản phẩm giáo dục cần để thị trường đánh giá

– Mỗi trường đại học có nhu cầu tuyển sinh riêng, nhưng đề thi lại chung nên hình như phiến diện?

+ Bộ trưởng nói rồi, năm 2009 bỏ thi đại học!

– Lúc đó, như các nước, tiêu chuẩn tuyển sinh dựa vào học bạ là chính, nhưng liệu chúng ta có kiểm sóat được sự khách quan của học bạ?

+ Chắc là Bộ GD – ĐT đã tính rồi! Chúng ta cần làm như thế để tăng tính chủ động cho các trường. Dần dần sản phẩm giáo dục sẽ do người sử dụng, xã hội, thị trường đánh giá. Uy tín của các trường tự các trường lo chứ nhà quản lý không phải lo…

– Chúng ta đang thiếu giảng viên nhưng Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân nói dạy đại học nhất thiết phải có bằng sau đại học. Vậy tại sao có nhiều trường hàng đầu thế giới vẫn mời những người không đủ bằng cấp nhưng giỏi chuyên môn về dạy?

+ Các trường đó theo hướng đào tạo nguồn nhân lực. Họ đào tạo hành nghề nên mời những người giỏi nghề dạy là tối ưu. Nhưng, họ vẫn có nghiên cứu nên chắc chắn có cả giáo sư, tiến sỹ. Như tôi đã nói, do chúng ta chưa phân rõ lọai trường, tư duy quản lý còn hành chính, chưa áp dụng kiểm định chất lượng nên ít nhất chúng ta còn phải dựa trên tiêu chí bằng cấp. Có lẽ không có gì để “bám” thì cũng phải bám vào bằng cấp làm tiêu chí, nhưng điều đó cần khắc phục…

– Theo ông, liệu nền giáo dục của chúng ta có “sánh vai với các cường quốc” nhanh chóng vì người Việt khá thông minh, chịu khó học tập?

+ Dân tộc nào cũng có thế mạnh, thế yếu. Giáo dục, kinh tế, thể thao… cũng là một hình ảnh của đất nước. Bóng đá chúng ta có vào vòng tám đội mạnh nhất Châu Á nhưng đó là “ráng sức” và may mắn, là phong độ nhất thời chứ chưa phải là đẳng cấp thực. Giáo dục cũng vậy, cố gắng vươn lên, được thôi, chẳng hạn như thi học sinh giỏi, nhưng nó không phải là đẳng cấp thực hay vị trí thực của cả nền giáo dục hiện tại. Không thể ngày một, ngày hai là khắc phục được vì phải có nền tảng và sự thay đổi đồng bộ nhận thức quản lý trước. Ông A.Riedl nói rằng cầu thủ Việt Nam còn thấp, VN còn thiếu chiến lược tổng thể để phát triển bóng đá. Tôi nghĩ giáo dục cũng chưa thóat khỏi cái đó và cần phải nhận thức đúng thì mới có hiệu quả quản lý! Chúng ta cần thay đổi nhận thức quản lý một cách đồng bộ.

– Sự thay đổi nhận thức quản lý đồng bộ đâu có khó, thưa ông?

+ Trong mọi sự thay đổi thì thay đổi nhận thức, tư duy là khó nhất! Ví dụ, các trường trên thế giới, vị trí giáo viên chuyên môn, giáo sư, tiến sĩ quan trọng hơn người quản lý. Họ thích làm chuyên môn hơn vì như thế mới có công trình, tên tuổi. Vì vậy, người quản lý phải thay phiên nhau phục vụ giáo viên chứ chẳng ai muốn làmquản lý. Ở ta thì hình như ngược lại nhưng liệu có thay đổi được ngay không? Ông thầy giáo thua ông trưởng khoa, ông trưởng khoa thua ông hiệu trưởng, ông hiệu trưởng thua ông quản lý nhà nước…

(St) Không ai hài lòng với nền giáo dục…

– Có một du học sinh viết trên mạng rằng giáo dục của VN lạc hậu hơn của Hoa kỳ một thế kỷ rưỡi. Là nhà quản lý giáo dục, ông nghĩ gì?

+ Tôi không hiểu sự phân tích đó dựa trên tiêu chí nào. Có thể người này cho rằng cách tổ chức, điều hành và kinh phí giáo dục của ta hiện nay giống của Mỹ cách đây 1,5 thế kỷ (?). Nhưng cũng khó nói lắm vì mô hình giáo dục các nước không giống nhau. Làm theo mô hình kinh tế đã khó, theo mô hình giáo dục càng khó hơn vì nó phụ thuộc vào con người, kinh tế, xã hội, lịch sử, văn hóa. Điều nữa, không người dân nước nào vừa lòng với nền giáo dục nuớc mình, kể cả với Mỹ. Chẳng hạn, người dân Mỹ phàn nàn “sao học sinh phổ thông của mình học toán dở quá…”; hay “ông” Tây thì tối ngày sinh viên biểu tình về đủ thứ liên quan đến giáo dục… Có câu chuyện thế này, hôm Bộ trưởng GD – ĐT của ta nghỉ hưu, tôi nói chuyện với một số bạn bè nước ngoài rằng: Anh ấy làm được gần hai nhiệm kỳ. Họ trố mắt bảo: “Sao lâu thế, giỏi thế? Ở nước chúng tôi, Bộ trưởng giáo dục thường được thay hai, ba lần trong một nhiệm kỳ tổng thống!”.

– Đào tạo đã khó nhưng hình như chính sách sử dụng của ta lại khó hơn vì chưa khuyến khích được nhân tài, ngay cả đối với ngành giáo dục?

+ Đúng là chính sách của ta chưa phù hợp lắm để khuyến khích người có khả năng. Cách của mình còn cứng vì sử dụng theo niên hạn, biên chế… Còn đề bạt người giỏi, theo tôi, tùy từng đơn vị chứ không phải lúc nào người có khả năng cũng bị không được đề bạt. Ngành giáo dục của ta chưa bao giờ hạn chế đối với những nhà giáo có trình độ cao, tâm huyết, đạo đức…

– Hình như khâu tư vấn nghề nghiệp của ta rất yếu nên học sinh ra trường chỉ chăm chăm thi vào đại học?Bản thân ông ngày xưa có được ai tư vấn?

+ Đúng! vấn đề này nước ngòai họ tư vấn rất chính xác cho cả sở trường, sở đỏan của mỗi học sinh khi vào đời, vào nghề. Bản thân tôi thì khác. Hồi đó, cha tôi (nhà thơ Viễn Phương – PV) bảo: “Làm nghệ sĩ như nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, họa sĩ… đều tốt nhưng phải thực tài, được xã hội đón nhận và phải nổi tiếng. Làm bác sĩ thì sai lầm có thể dẫn đến chết người. Tốt nhất là làm kỹ sư vì ít ảnh hưởng nghiêm trọng tới ai…”. Ấy thế mà bây giờ tôi lại làm quản lý giáo dục, có thể anh hưởng tới hàng ngàn, hàng vạn người và thậm chí cả thế hệ. Như tôi bây giờ sai lầm mới là đáng sợ! (cười)…

Xín cám ơn ông!

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s